Hai tháng sau ngày Massenet qua đời (13 tháng 8 năm 1912), Saint-Saëns đăng một bài trên tờ L’Écho de Paris [Tiếng vọng Paris], trong đó ông cay đắng đề cập đến mối quan hệ giữa mình và nhà soạn nhạc quá cố:
“Người ta đã nói nhiều về tình bạn gắn bó chúng tôi vì sự quan tâm anh ta dành cho tôi trước công chúng – nhưng chỉ ở trước công chúng. Anh ta đã có thể có tình bạn đó, và nếu anh ta muốn thì tình bạn đó đã tận tụy vững bền hết mực. Nhưng anh ta không muốn. Anh ta đã kể với mọi người – dù tôi chẳng kể với ai – rằng nhờ một trong những tác phẩm của anh ta như thế nào mà tôi tiếp cận được Nhà hát Weimar, nơi vừa mới dàn dựng Samson. Điều anh ta không kể là thái độ lạnh như băng của mình khi đón nhận tin này từ tôi, người đã mong đợi một phản ứng khác hẳn. Kể từ đó tôi không cưỡng cầu nữa và thường hoan hỉ trước thành công của anh ta mà không mong đợi bất kỳ sự đáp lại nào từ phía anh ta – điều bất khả theo như tôi biết từ lời anh ta thú nhận một ngày nọ. Bạn bè của tôi là Bizet, Guiraud, Delibes; họ là anh em thân thiết của tôi. Còn Massenet là đối thủ.”
Bài cáo phó viết khá muộn này xuất hiện sau một phản ứng thậm chí còn dứt khoát hơn – nếu không muốn nói là dữ dội hơn – mà Saint-Saëns đã ghi lại khi hay tin Massenet qua đời. Trong một lá thư đề ngày 15 tháng 8 năm 1912, ông viết cho nhà xuất bản của mình:
“Tin tức của anh không đến chỗ tôi nhưng tôi đã nghe được từ các tờ Musica và Excelsior khi họ đề nghị tôi viết bài. Tôi đã khước từ vinh dự. Massenet đã cư xử một cách đáng khinh với tôi; anh ta đã kìm hãm sự nghiệp của tôi trong nhiều năm […], chưa kể tất cả những mánh lới mà anh ta giở ra với tôi mỗi khi có thể. Xung quanh đã có đủ người ca ngợi anh ta và nói về lòng hào hiệp của kẻ tồi tệ đã từ chối đến thăm Gallet đang hấp hối (con người tội nghiệp này nhờ cậy tôi đến gọi anh ta) vì việc gặp người sắp chết khiến mình phát ốm! Sự ích kỷ, dối trá và hám lợi chưa bao giờ có một hiện thân tốt hơn! Ấy vậy mà cái chết của anh ta, dẫu chẳng bất ngờ, lại rất khó khăn với tôi […]. Nhưng việc viết lời tán dương anh ta thì ngoài sức tôi. Họ sẽ cho rằng sự im lặng của tôi là do ghen tị, và như vậy họ sẽ hoàn toàn nhầm lẫn! Ghen tị là một trong những phẩm chất tốt đẹp nhất của anh ta chứ không phải của tôi. Tôi không bao giờ ngừng bảo vệ anh ta trước những kẻ ngu ngốc phủ nhận tài năng của anh ta. Tài năng đó không phải là không khiếm khuyết; nhưng ai mà chẳng có lỗi?”
Vài dòng oán giận sâu sắc này tiếp tục làm ta ngạc nhiên khi đọc thư từ trao đổi giữa Saint-Saëns và Massenet, trong đó không thể nhận thấy sự thù hận lẫn nhau nào. Trái lại, hai nhà soạn nhạc không ngớt bày tỏ sự thân thiện cũng như cảm xúc về tình bạn hay lòng ngưỡng mộ. Về Le Cid (1885), Saint-Saëns khẳng định: “Tôi chỉ có thể tìm thấy một từ: chói lọi! Cuộc truy hoan của cuộc sống và mặt trời đó đã mang lại cho tôi một niềm vui mà tôi không thể diễn tả được, và tôi sẽ tận hưởng nó càng nhiều càng tốt. Mong tác phẩm của anh cũng như anh được trường thọ để anh có thể viết nhiều hơn nữa. / Người ngưỡng mộ và bạn của anh / C. Saint-Saëns.” Hai mươi năm sau, Massenet nhận được một lá thư dài khác từ Saint-Saëns đề cập đến bản quyền tác giả của họ ở Ai Cập và kết thúc bằng các chữ tượng hình bên cạnh cái có lẽ là bản dịch: “Hãy hân hoan / và chiến thắng, / Con trai mặt trời!” Massenet cũng không kém cạnh trong bản hợp xướng ngợi ca này. Sau khi nhận được tổng phổ Giao hưởng số 3, ông viết cho Saint-Saëns: “Tôi vô cùng ngạc nhiên trước tác phẩm vô song này! / Bạn của anh, người bạn thân mến, và maestro vĩ đại, bởi anh là một maestro rất, rất vĩ đại.”
Việc đối chiếu một số nguồn tài liệu cho phép ta gỡ rối mạng lưới quan hệ phức tạp của họ. Vì cả hai thuộc cùng thế hệ, Saint-Saëns và Massenet nhanh chóng trở thành một dạng kình địch cả về cấp độ nghệ thuật lẫn cấp bậc tổ chức. Một mặt, Massenet, người đoạt Giải thưởng Rome năm 1863, được bầu vào Học viện Pháp quốc năm 1878 vượt trên Saint-Saëns, người tuy cũng được bầu vào năm 1881 nhưng chưa từng đoạt giải thưởng sáng tác uy tín nào. Mặt khác, cả hai cùng được nhận Bắc Đẩu Bội tinh đệ Nhị đẳng (grand officier) vào tháng 12 năm 1900, dẫn đến việc trao đổi những lời nhận xét lịch sự mà ở bên dưới đã âm ỉ sôi một sự ganh đua sâu sắc còn chưa tuyên bố:
“Tôi ôm hôn anh và vui mừng khi nghĩ rằng chúng ta đeo huân chương cùng hạng. – C. Saint-Saëns”
“Phải, hỡi người bạn lớn thân thiết, đó quả là “huân chương cùng hạng”, như anh nói một cách ân cần và dí dỏm… vô song… tôi không viết về Giao hưởng số 3 Đô thứ tuyệt vời của anh… Chưa kể các tác phẩm còn lại!!!
Vợ tôi và tôi gửi tới anh lòng cảm mến và ngưỡng mộ. Và cảm ơn anh, cảm ơn anh một lần nữa.
J. Massenet”
Tuy nhiên, sự ganh đua giữa hai nhà soạn nhạc đã nổ ra một cách công khai vào năm 1910 khi tạp chí thường kỳ Musica xuất bản một bức ảnh chụp Saint-Saëns và Massenet với chú thích: “Vào đầu tháng này, một sắc lệnh của chính phủ sẽ thăng hạng một trong hai maestro nổi tiếng này lên Bắc Đẩu Bội tinh đệ Nhất đẳng. Được ngưỡng mộ ngang nhau, được yêu mến ngang nhau: ai trong số hai nhà soạn nhạc nổi tiếng này sẽ được vinh danh, và ai sẽ là người đầu tiên ngạc nhiên khi thấy mình trong bức ảnh minh họa trang này?” Thế nhưng chẳng ai trong số họ được trao thưởng vào thời điểm đó , điều chắc chắn đã xui nên các tuyên bố của Massenet trong một bài phát biểu ngày 14 tháng 9 năm 1910, tức là vài tháng sau đó để tưởng niệm điêu khắc gia Emmanuel Frémiet, nhưng có lẽ với suy nghĩ về chính bản thân mình: “Ông không thiếu bất kỳ danh hiệu nào được trao cho người còn sống; có lẽ ngoại trừ Bắc Đẩu Bội tinh đệ Nhất đẳng, bởi ông mới chỉ được trao đệ Nhị đẳng, nhưng nếu như ông thiếu vinh dự tối cao đó thì dư luận đã trao nó cho ông từ lâu.” Về phần Saint-Saëns, ông viết cho Charles Lecocq bạn mình với giọng kiên quyết:
“Anh cũng nhắc đến huân chương đệ Nhất đẳng: tới lượt tôi có nó đấy nhưng vì tôi sẽ hoàn toàn trung lập như tôi đã làm trong suốt cuộc đời, và vì người kia [Massenet] sẽ giật mọi sợi dây trong tầm tay nên anh ta hoàn toàn có khả năng vượt mặt tôi. Đó sẽ là một viên thuốc đắng nữa phải nuốt sau rất nhiều viên thuốc đắng khác. Tôi sẽ tự an ủi bằng cách nghĩ rằng người kia dẫu tài năng tuyệt vời nhưng đã không thể vươn tới tầm Giao hưởng Đô thứ trong phòng hòa nhạc hay Samson trong nhà hát.”
Ở lá thư này, chúng ta thấy một khía cạnh khác của sự ganh đua giữa hai nhà soạn nhạc, vì trong khi trích dẫn, một cách dễ hiểu, hai kiệt tác chính yếu của mình, Saint-Saëns không lưu ý đến vô số thất bại của mình ở mảng sân khấu trữ tình, điều chắc hẳn còn khiến ông đau khổ hơn khi chứng kiến nhiều thành công của Massenet ở mảng này. Ngược lại, Massenet có lẽ đã cảm thấy thất vọng phần nào vì chưa bao giờ nổi bật trong phòng hòa nhạc ngoại trừ với các tổ khúc dàn nhạc của mình. Năm 1903, sau khi chỉ trích gay gắt bản Concerto piano của ông, một thể loại mà Saint-Saëns xuất sắc, các nhà phê bình thúc giục ông quay lại viết nhạc cho sân khấu. Họ cho rằng Massenet không thích hợp với việc xây dựng kiểu phát triển giao hưởng mà vào thời điểm đó chỉ một nhà soạn nhạc như Saint-Saëns mới có thể tạo ra. Nhà xuất bản của Saint-Saëns, Jacques Durand, lật lại sự lưỡng phân rõ rệt và sự ghen tị lẫn nhau của hai nhà soạn nhạc khi ông kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa mình và Massenet vào năm 1909, ngay trước buổi ra mắt Bacchus:
“[Massenet] nói với tôi về âm nhạc của mình, nhất là một đoạn giao hưởng mang tiêu đề La Bataille des singes từ vở opera. Ông mô tả sự phát triển âm nhạc mà ông đã dành cho phần này của vở, cách viết cẩn trọng mà ông đã đặt vào, và cách đưa những suy nghĩ của mình đến một điểm cụ thể hơn, ông nói thêm rằng mình sẽ rất vui nếu tôi khiến Saint-Saëns chú ý đến đoạn giao hưởng này bởi việc Saint-Saëns đánh giá cao, nếu được, là rất quan trọng với ông. Tôi đã hứa với maestro những gì ông yêu cầu ở tôi, rồi vừa rời đi vừa nghĩ tới những lo lắng về giao hưởng khiến ông phiền toái và so sánh chúng với những lo lắng của Saint-Saëns khi viết nhạc cho sân khấu.
Massenet rất muốn trở thành tác giả giao hưởng lớn còn Saint-Saëns rất muốn là tác giả nhạc kịch lớn. Họ ghen tị lẫn nhau về mặt nghệ thuật vì duyên cớ ấy – về phần còn lại hoàn toàn là do nhầm lẫn.”
Tuy nhiên hai nhà soạn nhạc đã cảm thấy một niềm ngưỡng mộ lẫn nhau có thể dẫn họ đến sự sáng suốt hơn, trong đó những suy tư chân thành dù sao cũng xen lẫn với những tuyên bố đắng cay hay vụ lợi. Là giáo sư sáng tác tại Nhạc viện, Massenet nhiệt tình khuyến khích học trò của mình tham khảo tổng phổ của Saint-Saëns, điều mà Saint-Saëns rất biết ơn. Ông cũng không do dự khen ngợi tài năng của đồng nghiệp, dù đôi khi có thể là với một động cơ thầm kín. Vào đêm trước buổi tổng duyệt Samson et Dalila, vốn là tâm điểm của cuộc cạnh tranh gay gắt với Hérodiade, vở ra mắt sau, Massenet đã viết cho giám đốc Nhà hát Opéra Paris: “Chiến thắng là chắc chắn – đó là một kiệt tác được thừa nhận.” Tương tự như vậy, Liszt cũng nhận được lời giãi bày bất ngờ từ Massenet, người mà Liszt đánh giá cao tài năng dù Liszt không xếp Massenet ngang hàng Saint-Saëns: “Vì nghe nói quan hệ cá nhân giữa Massenet và Saint-Saëns không được tốt, tôi đã tránh đề cập đến Saint-Saëns cho đến khi anh ấy đảm bảo với tôi rằng anh ấy coi Saint-Saëns là nhạc sĩ Pháp quan trọng nhất kể từ Gounod.” Sự gần gũi về nghệ thuật và cá nhân giữa nhà soạn nhạc người Hungary và Saint-Saëns có thể đã khiến Massenet thốt ra một câu nói đùa theo lời kể của Reynaldo Hahn: “Tôi bảo ông rằng Bizet dẫu tài năng tuyệt vời nhưng không độc đáo, và chỉ ra rằng chẳng ai nói ‘Nghe như Bizet’, trong khi người ta thường nói ‘Nghe như Gounod’, ‘Nghe như Massenet’, ‘Nghe như Liszt’. Massenet đáp lại: ‘Nhưng đôi khi nghe Liszt, người ta lại bảo: ‘Nghe như Saint-Saëns.’”
Về phần Saint-Saëns, dù chỉ trích Marie-Magdeleine (1873) và Hérodiade (1881) bằng những lời lẽ úp mở trong các bài báo mình viết nhưng ông cũng thể hiện sự ngưỡng mộ của mình đối với kỹ năng của tác giả. Hôm sau ngày dàn dựng Don César de Bazan (1872), ông thốt lên:
“Massenet có cách tổ chức âm nhạc tuyệt vời. Anh có năng khiếu về giai điệu, cảm xúc với cái đẹp, sự hoạt bát của nhịp điệu; anh có cách xử lý dàn nhạc riêng khiến anh nổi bật so với hàng ngàn người khác; anh là sự pha trộn giữa việc tìm kiếm tinh tế và sự chói sáng, với những nét mềm mại tinh xảo gợi nhớ đến một số loại vải thêu kim tuyến từ phương Đông. Nói tóm lại, anh tập hợp tất cả những gì hấp dẫn và quyến rũ, thêm vào đó là sự dễ dàng đến phi thường. Anh sẽ là người viết cho chúng ta mười vở opera mỗi năm nếu anh tìm được cơ hội.”
Cũng như vậy, Saint-Saëns tỏ ra khắt khe với một số tác phẩm của đối thủ, như Don Quichotte (1910) và La Navarraise (1894), các tác phẩm khiến ông “kinh hoàng” vào năm 1903, mặc dù ông hoàn toàn ngưỡng mộ Le Roi de Lahore (1877), Manon (1884) và Thérèse (1907). Tuy nhiên, tác phẩm yêu thích của ông vẫn là Thaïs (1894) – đến mức ông đã ứng tác một “khúc diễn giải dành cho piano” theo kiểu Liszt, dựa trên các mô típ từ cảnh kết với cái chết của vai nữ chính. Saint-Saëns đề tặng tác phẩm này, La Mort de Thaïs [Cái chết của Thaïs], cho vợ của Massenet, người có vẻ tao nhã mà ông ngưỡng mộ. Như phần cuối vở opera, tác phẩm cô đọng các mô típ khí nhạc nổi bật nhất, đặc biệt là mô típ “Khúc suy tưởng”, biến đổi các thái cực thành một mô típ trữ tình mãnh liệt. Nhưng trước đoạn đó, Saint-Saëns giới thiệu khúc diễn giải của mình bằng mô típ điên cuồng “La Course dans la nuit” [Cuộc phi ngựa trong đêm] mà ông gọi nhầm là “La Course à l’abîme” [Cuộc phi ngựa tới địa ngục] trong bức thư gửi Massenet ngày 16/10/1895. Lapsus calami [Lỗi viết nhầm] này, gợi liên tưởng đến cảnh áp chót trong La Damnation de Faust, tỏa sáng lòng say mê của Saint-Saëns dành cho Thaïs: vở opera của Massenet là một tác phẩm nổi bật kiểu Liszt, thậm chí kiểu Berlioz vì cách viết hòa âm và các thơ giao hưởng nhỏ liên kết một số cảnh nhất định với nhau. Do đó không phải ngẫu nhiên mà Saint-Saëns xây dựng khúc diễn giải dựa trên các mô típ khí nhạc và a fortiori [dĩ nhiên là] từ các khúc nhạc thuộc về một thể loại mà chính ông đã đưa vào Pháp dưới ảnh hưởng của Liszt và Berlioz, hai nhà soạn nhạc mà ông vô cùng ngưỡng mộ.
Được sáng tác vào tháng 10 năm 1895 và được Heugel (nhà xuất bản của Massenet) xuất bản, La Mort de Thaïs rõ ràng là một dấu mốc thăng bằng trong mối quan hệ đầy sóng gió giữa hai nhà soạn nhạc. Massenet đã mời đối thủ của mình đi ăn trưa để Saint-Saëns có thể biểu diễn khúc diễn giải cho vợ chồng ông nghe. Trong một bức thư đề ngày 9/11/1895, tác giả của Manon đã tiện tay sáng tác một tác phẩm đối âm trên mô típ mà Saint-Saëns ký âm trong bức thư gần nhất của mình. Liệu chúng ta có thể không thấy trong bài tập học thuật này một sự ám chỉ tài năng biên thư của ông cũng nhiều như sự phô diễn của một tác giả muốn thể hiện những năng khiếu mà người đời phủ nhận ở ông?
Do đó mối quan hệ phức tạp mà Saint-Saëns duy trì với Massenet vẫn là một chỉ số thú vị về tâm lý của hai nhà soạn nhạc. Trong trường hợp Massenet, nó tiết lộ một nhà soạn nhạc mâu thuẫn có lẽ chân thành trong việc thể hiện lòng ngưỡng mộ dành cho Saint-Saëns, người dù sao cũng quy cho ông những hành động hèn nhát nhất mà ngày nay vẫn chưa được chứng minh. Sự niềm nở không ngừng của ông đúng hơn là dấu hiệu của một bản chất tâm lý mong manh, như Charles Lecocq phác họa một cách hoàn hảo sau khi đọc bài cáo phó Saint-Saëns viết:
“[Massenet] về cơ bản là một người không thích ai nhưng lại muốn được mọi người yêu thích. Suốt đời anh ấy luôn hòa nhã bề ngoài và trong khi trò chuyện luôn tránh đưa ra bất kỳ ý kiến nào về sự việc hay về con người […]. Anh ấy về cơ bản không phải là người xấu tính mà là người hay khiếp hãi, nhát gan, hay lo âu và sợ những cảm xúc mạnh mẽ. Bằng chứng là anh ấy chưa bao giờ tham dự các buổi công diễn lần đầu của chính mình.”
Về phần Saint-Saëns, thư từ ông gửi Massenet đôi khi cho thấy sự phát triển trong cách suy nghĩ của ông. Ví dụ như trong một bức thư gửi Massenet ngày 1/11/1895, ông có thể ca ngợi La Navarraise – chính tác phẩm mà ông chỉ trích một cách dứt khoát vài năm sau đó, như chúng ta đã thấy, khi nói với một người khác. Cũng vậy, ba năm sau khi Massenet qua đời, ông kể lại cho Charles Lecocq hai giấc mơ trong đó Massenet và Gounod lần lượt xuất hiện với kết luận rằng Massenet “gây bực bội và khó chịu” được trời phú cho một “tài năng lớn” nhưng lại thiếu “sự cao nhã” và “tầm vóc” của Gounod.
Thật hợp lý khi ngạc nhiên trước những phản ứng trái ngược của một tác giả nổi tiếng là thẳng thắn và không mấy khi tỏ ra thất thường kiểu này. Liệu Saint-Saëns có sợ cái gọi là hành vi nham hiểm của Massenet, người có sức ảnh hưởng và hình ảnh chắc chắn là quan trọng không? Hay chúng ta nên thấy trong hành vi mà bên trong pha trộn sự thù địch và niềm ngưỡng mộ này những phản ứng của một nhà soạn nhạc nhận thấy trong âm nhạc Massenet một phản ánh về những bận tâm thẩm mỹ của chính mình, dẫu là một tính cách không chỉ khiến ông khó chịu mà còn cản trở hành trình tìm kiếm thành công của chính mình.
Trong bài cáo phó Saint-Saëns viết về Massenet, ông ca ngợi phong cách của Massenet bằng những lời lẽ có thể xác định rõ ràng sự nhạy cảm mà chính ông đã thể hiện trong Samson et Dalila: bác bỏ ảnh hưởng mù quáng của Wagner, tính hiện đại không kiềm chế, ảnh hưởng quá mức từ thanh nhạc Ý; sự tinh tế trong cách xây dựng giao hưởng, được đảm bảo bởi các leitmotif [motif de rappel, nhạc đề dẫn đạo], nhưng cả sự bền bỉ của các hình thức thanh nhạc trong đó khúc ca vẫn giữ được tầm quan trọng của mình.
“Trong thời kỳ hỗn loạn thẩm mỹ này […] Massenet đã đưa ra một ví dụ về lối viết hoàn hảo khi biết cách liên kết tính hiện đại với sự tôn trọng truyền thống vào thời điểm mà chỉ cần chà đạp lên truyền thống là đủ được xếp vào hạng thiên tài. Là bậc thầy vô song trong nghề, vượt qua mọi khó khăn, sở hữu tất cả những bí mật sâu sắc nhất trong nghệ thuật của mình, anh khinh miệt những màn nhào lộn và những cường điệu mà kẻ ngây thơ nhầm lẫn với khoa học âm nhạc và đi theo con đường của riêng mình, con đường anh đã vạch ra cho mình mà không quan tâm đến những gì người ta có thể nói. Biết cách thu lợi một cách chính đáng từ những điều mới lạ mang đến cho chúng ta từ nước ngoài nhưng đồng hóa chúng một cách hoàn hảo, anh đã cho chúng ta màn trình diễn an ủi của một nghệ sĩ Pháp đích thực mà cả những thiếu nữ sông Rhine hay những mỹ nhân ngư Địa Trung Hải đều không thể quyến rũ được. Là một nghệ sĩ dàn nhạc điêu luyện, anh đã không hy sinh giọng hát cho dàn nhạc, và là một người yêu thích giọng hát, anh đã không hy sinh màu sắc dàn nhạc cho giọng hát. Cuối cùng, anh có năng khiếu siêu việt này: sức sống, cái năng khiếu không định nghĩa được nhưng khán giả sẽ không nhầm lẫn, và năng khiếu bảo đảm cho vận mệnh không tác động xấu đến mình.”
Cốt lõi âm nhạc Massenet, như vậy vẫn mang đậm chất Pháp – theo quan điểm của Saint-Saëns, là giá trị thực sự của nó. Sau cuộc gặp năm 1910 với Massenet, người lúc ấy đã yếu ớt vì bệnh tật, Saint-Saëns thổ lộ với Charles Lecocq những cảm xúc vượt xa những mâu thuẫn đã vạch ra, trong đó một dạng thương xót chợt nảy sinh: “Anh ta thay đổi rất nhiều, già hơn, gầy hơn, anh ta run rẩy một cách đáng ngại. Điều đó rất khó khăn với tôi, vì dù tôi không thể coi anh ta là bạn (chính anh ta là người không muốn thế), tôi biết ơn anh ta vì sự xuất sắc anh ta thể hiện ở trường phái Pháp, và vì vậy tôi tha thứ cho anh ta mọi điều.”
Jean-Christophe Branger
Ngọc Anh dịch
Nguồn: Sách Camille Saint-Saëns and His World do Jann Pasler chủ biên (Princeton University Press, 2021)



