Tác giả: Sergei Rachmaninov.
Tác phẩm: Giao hưởng số 2 giọng Mi thứ, Op. 27
Thời gian sáng tác: Năm 1906-1907.
Công diễn lần đầu: Ngày 8/2/1908 với tác giả chỉ huy tại Saint Petersburg.
Độ dài: Khoảng 60 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho nhà soạn nhạc Sergei Taneyev, thầy giáo của Rachmainov.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Largo – Allegro moderato (Mi thứ)
Chương II – Allegro molto (La thứ)
Chương III – Adagio (La trưởng)
Chương IV – Allegro vivace (Mi trưởng)
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 3 oboe (oboe 3 kiêm English horn), 2 clarinet, bass clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, snare drum, cymbal, glockenspiel và dàn dây.

Khoảng 9 năm sau màn ra mắt ác mộng của Giao hưởng số 1, Rachmaninov mới quay trở lại với thể loại này. Trên thực tế, sau sự trở lại ngoạn mục của nhà soạn nhạc với Concerto piano số 2 vào năm 1901, Rachmaninov đã sáng tác đều đặn hơn với các tác phẩm dành cho piano, một số bài hát, nhạc thính phòng và 2 vở opera. Tháng 2/1906, sau gần 2 năm làm nhạc trưởng chính cho nhà hát Bolshoi, Moscow, Rachmaninov đã từ chức vì những bất ổn của cuộc cách mạng năm 1905 mang lại. Ông đưa vợ và con gái đi du lịch vòng quanh nước Ý với hi vọng tìm được cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên, những căn bệnh đã ập tới với vợ và con gái khiến ông phải quay trở về nhà. Mặc dù vậy, gia đình Rachmaninov cũng không ở Nga lâu. Tình hình chính trị phức tạp và không khí căng thẳng đã khiến nhà soạn nhạc tiếp tục di chuyển và tạm thời định cư ở Dresden vào tháng 11/1906, một địa điểm khiến mọi thành viên đều cảm thấy hài lòng.

Dresden đã mang lại bầu không khí thanh bình và sự riêng tư cần thiết khiến Rachmaninov toàn tâm toàn ý vào công việc sáng tác. Tại đây, ông bắt tay vào một tác phẩm khí nhạc lớn dành cho dàn nhạc đầu tiên của mình kể từ sau Giao hưởng số 1. Và Rachmaninov đã hoàn thành toàn bộ phác thảo đầu tiên của Giao hưởng số 2 ngay trong những ngày đầu năm mới 1907. Ông viết thư cho người bạn của mình, Nikita Morozov vào tháng 2/1907: “Một tháng trước, hoặc lâu hơn, tôi đã thực sự hoàn thành một bản giao hưởng, nhưng tôi phải thêm cụm từ “bản nháp”. Tôi chưa công bố nó với “thế giới” vì trước tiên tôi muốn hoành thành bản cuối cùng. Trong khi tôi có kế hoạch đặt nó vào dạng “sạch sẽ”, nó chợt trở nên nhàm chán và đáng ghét kinh khủng với tôi. Vì vậy tôi để nó sang một bên và làm việc khác”. Tuy nhiên, Rachmaininov đã nhận lời đưa tác phẩm của mình vào mùa diễn sau nên ông bắt buộc phải hoàn thành tác phẩm. Vẫn bức thư đó cho biết: “Tôi có thể kể riêng với anh rằng tôi không hài lòng với nó, nhưng nó thực sự sẽ như vậy, mặc dù không phải trước mùa thu và tôi sẽ không bắt đầu phối khí nó cho đến mùa hè”.

Mùa hè năm 1097, Rachmaninov trở về Nga. Trong một bức thư khác cũng cho Morozov vào ngày 2/8, Rachmaninov viết: “Hai tuần nay tôi bận rộn với việc phối khí cho bản giao hưởng. Công việc được tiến hành rất vất vả và chậm chạp. Nó chậm không chỉ bởi phần viết cho từng nhạc cụ, điều luôn khó khăn đối với tôi mà còn do tôi vẫn để ở dạng bản thảo, nhiều chương nhạc vẫn còn dang dở”. Cuối cùng, Giao hưởng số 2 cũng được Rachmaninov hoàn thành và được công diễn lần đầu vào ngày 8/2/1908 dưới sự chỉ huy của chính tác giả tại Saint Petersburg và giành được sự tán thưởng nhiệt liệt cả từ phía khán giả và những nhà phê bình. Yuli Engel đã nhận xét: “Tuy đã 34 tuổi, anh là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong thế giới âm nhạc đương đại, là người kế vị xứng đáng cho Tchaikovsky… Người kế vị, chứ không phải kẻ bắt chước, vì anh có cá tính riêng của mình. Điều này đã được khẳng định một cách ấn tượng nhất qua bản giao hưởng Mi thứ mới của Rachmaninov. … Sau khi lắng nghe với sự tập trung vào bốn chương của nó, mọi người ngạc nhiên thấy rằng kim đồng hồ đã di chuyển về phía trước sáu mươi lăm phút. Điều này có thể hơi dài đối với khán giả nói chung, nhưng nó tươi mới làm sao, nó đẹp làm sao!”.

Tác phẩm đã giành được giải thưởng Glinka với số tiền 1.000 rúp. Sự thành công của bản giao hưởng số 2 đã minh oan cho Rachmaninov sau màn ra mắt nhục nhã của Giao hưởng số 1. Tài năng của ông với tư cách một nhà soạn nhạc giao hưởng đã được công nhận. Bản giao hưởng đã trở thành tác phẩm dành cho dàn nhạc được yêu thích nhất của ông. Những giai điệu đầy say mê với nhiều màu sắc đa dạng dựa trên sự phối khí tinh tế đã đưa bản nhạc thành một bản giao hưởng tuyệt vời nhất thời kỳ hậu Lãng mạn.

Giao hưởng số 2 của Rachmaninov có 4 chương. Âm nhạc nhẹ nhàng và thư thái. Đây là một bản giao hưởng vẫn giữ cấu trúc và tinh thần của thời kỳ Lãng mạn: giàu giai điệu, chân thành và sâu lắng. Những giai điệu trữ tình và tha thiết cho ta thấy một Rachmaninov chín muồi về mặt cảm xúc đồng thời cho thấy sự liên kết chặt chẽ của nhà soạn nhạc với bậc tiền bối Tchaikovsky hơn bất cứ tác phẩm nào khác. Như Rachmaninov đã từng nói: “Tôi bị Tchaikovsky bỏ bùa”, chủ đề tuyên ngôn của Giao hưởng số 2 của ông cũng xuất hiện trong tất cả các chương, theo cái cách mà Tchaikovsky đã sử dụng trong bản giao hưởng số 5 của mình. Rachmaninov đã thống nhất các chương của bản giao hưởng bằng cách sử dụng lại các chủ đề và motif chính.

Chương I bắt đầu với chủ đề tuyên ngôn được giới thiệu ngay trên bè trầm của dàn dây, sau đó phát triển trên violin và cuối cùng được mở rộng thành phần Lento chậm rãi nhưng kiên quyết chiếm 68 ô nhịp. Chủ đề này sẽ còn được xuất hiện nhiều lần sau đó. Sau một đoạn độc tấu dài trên English horn, phần chính của chương nhạc Allegro moderato bắt đầu ở giọng thứ với chủ đề chính được mô phỏng theo chủ đề tuyên ngôn. Chủ đề hai thư thái và biểu cảm cung cấp sự tương phản ở giọng Son trưởng xuất hiện trước khi đoạn độc tấu của violin và clarinet trong phần phát triển giới thiệu lại một lần nữa chủ đề chính. Phần phát triển này được xây dựng tới một cao trào kịch tính và được lắng xuống trong phần tái hiện thoải mái và thư giãn hơn ở giọng Mi trưởng. Phần coda ở giọng Mi thứ được đẩy tới cao trào trong âm lượng fortissimo. Âm nhạc toàn chương nhạc sâu sắc, lắng đọng và đầy đam mê.

Rachmaninov đã đảo ngược chương scherzo lên trước chương chậm, điều không hiếm gặp ở thời kỳ Lãng mạn. Chương II giọng La thứ có hình thức rondo 7 đoạn (ABACABA), ở nhịp 2/2 khá bất thường (các scherzo khác thường ở nhịp ¾) bắt đầu với một chủ đề gần như ám ảnh nhà soạn nhạc trong suốt cuộc đời: “Dies Irae”, một bản thánh ca truyền thống thời trung cổ của Thiên chúa giáo dành cho người chết được miêu tả là “ngày giận dữ”, phán quyết cuối cùng vào ngày tận thế của thế giới. Tuy nhiên, ngay cả trong chương nhạc nhộn nhịp này, Rachmaninov cũng không thể cưỡng lại việc sáng tác một chủ đề phụ trữ tình, hoài cổ chia sẻ nhiều chất liệu với chủ đề đầu tiên của chương I. Phần trio là một fugue ở giữa chương nhạc có tính chất như một khúc diễu hành trước khi giai điệu mở đầu trở lại tạo nên sự đối xứng của chương nhạc. Trong phần coda, chủ đề tuyên ngôn thoáng xuất hiện trên bè đồng như lời nhắc nhở đầy ám ảnh về sự có mặt của nó.

Chắc chắn chương III ở giọng La trưởng chứa đựng nhiều giai điệu tuyệt vời nhất mà Rachmaninov đã từng sáng tác. Chủ đề đầu tiên xuất hiện một cách đơn giản, nhẹ nhàng và trìu mến trên bè violin và được biến tấu nhiều lần trong cả chương nhạc không hề nghi ngờ là một trong số đó. Một phần của giai điệu này được đưa ra như một lời báo trước cho một giai điệu tuyệt đẹp, hảo sảng của clarinet, như một dòng suối bất tận. Trong phần giữa của chương nhạc, chủ đề tuyên ngôn xuất hiện trong một motif 4 nốt nhạc trên English horn. Về cuối chương nhạc, clarinet và violin thay đổi vai trò cho nhau, khép lại trong một không khí yên bình trên dàn dây. Âm nhạc cực kỳ lãng mạn và da diết.

Chương IV được viết ở hình thức sonata tràn đầy năng lượng. Âm nhạc mang tính lễ hội. Chủ đề chính sống động ở giọng Rê trưởng được chơi bằng toàn bộ dàn nhạc dẫn đến một đoạn hành khúc trên kèn gỗ ở giọng Son thăng thứ. Sau sự trở lại của chủ đề chính là một chủ đề thứ hai, rộng lớn và khoáng đạt hơn được chơi trên dàn dây. Âm nhạc nhỏ dần về pianissimo, một chủ đề dựa trên chủ đề chính của chương III xuất hiện ở giọng Rê trưởng với bè dây chơi tremolo. Trong chương nhạc cuối cùng này, chủ đề tuyên ngôn và “Dies Irae” đều được tái hiện. Phần phát triển gồm 2 phần nhỏ, phần đầu tiên giới thiệu các ý tưởng âm nhạc mới và phần sau, dựa trên các thang âm đi xuống, ở các tốc độ khác nhau và các chiều cao khác nhau, giống như tiếng chuông ngân vang. Phần tái hiện bắt đầu với chủ đề đầu tiên ở âm át và trình bày lại chủ đề 2 rộng lớn, khoáng đạt ở giọng Mi trưởng. Một coda với tốc độ nhanh khép lại bản giao hưởng, trong đó tái hiện lại chủ đề tuyên ngôn trên bè đồng giống như cách kết thúc chương II.

Đây là một bản giao hưởng có thời lượng khá dài, khoảng một giờ đồng hồ. Kể từ khi ra đời, tác phẩm được biểu diễn dưới hình thức bị cắt đi nhiều đoạn. Theo một thống kê của New York Philharmonic, có tất cả 29 đoạn cắt được cho là có sự chấp thuận của Rachmaninov, dẫn đến việc chỉ mất khoảng 45 phút, thậm chí ít hơn để chơi toàn bộ tác phẩm. Chưa có một bản giao hưởng nào, kể cả những bản dài và có nhiều sửa chữa nhất của Bruckner bị đối xử như vậy. Rachmaninov từng nói với nhạc trưởng Eugene Ormandy: “Anh không hiểu những vết cắt có ý nghĩa thế nào đối với tôi, nó như từng nhát dao đâm vào trái tim tôi vậy”. Nhà soạn nhạc hẳn sẽ cảm thấy hạnh phúc và hài lòng khi biết được rằng ngày nay, bản giao hưởng số hai của mình thường được biểu diễn ở dạng nguyên gốc.

Cobeo