“Hãy coi giọng hát của bạn như vốn trong ngân hàng. Hãy hát trên lãi suất và giọng hát của bạn sẽ tồn tại lâu dài.” – Lauritz Melchior

Có dáng vóc khổng lồ cũng như sức mạnh khủng khiếp trong giọng hát của mình, Lauritz Melchior đã được ca ngợi trong suốt cuộc đời như một ca sĩ hiếm có trong những vở opera của Richard Wagner. Là heldentenor không có đối thủ trong thời đại của mình, theo một thống kê, ông có hơn 1.000 buổi biểu diễn các vở opera của Wagner, nhiều hơn khoảng 3 lần những tenor cùng thời khác, bao gồm hơn 200 lần vào vai Tristan (Tristan und Isolde) và 181 lần vào vai Siegfried (Siegfried) trong sự nghiệp, thể hiện sự thống trị tuyệt đối trong địa hạt của mình. Ca sĩ người Đan Mạch khởi nghiệp với tư cách giọng baritone và chuyển sang giọng tenor năm năm sau đó. Dưới sự khuyến khích từ Cosima và Siegfried, vợ và con trai của Wagner, Melchior đã gắn bó chặt chẽ với các vở opera của nhà soạn nhạc thiên tài này. Cùng với Kirsten Flagstad, ông đã tạo nên một trong những bộ đôi ăn ý nhất trong lịch sử opera. Họ là Tristan và Isolde huyền thoại, không thể thay thế. Melchior khởi nghiệp tại châu Âu và lên đến đỉnh cao danh vọng bằng những màn trình diễn chói sáng tại Metropoltan Opera. Di sản ông để lại là những chuẩn mực để các ca sĩ thế hệ sau chiêm ngưỡng và học tập.

Lauritz Lebrecht Hommel Melchior sinh ngày 20/3/1890, trùng ngày sinh với Beniamino Gigli, tại Copenhagen trong một gia đình trung lưu. Cha của cậu là hiệu trưởng của một trường trung học tư thục. Melchior ngay từ nhỏ đã được học hát do một học sinh nội trú của cha cậu là một thầy giáo thanh nhạc, người đã dạy hát cho những đứa trẻ quanh vùng. Chị gái Agnes bị mù và Lauritz, với tư cách người đi cùng chị mình đã luôn có được một chỗ ngồi tại Royal Theatre, điều khiến cho sự hứng thú của cậu với những vở opera ngày càng tăng lên theo năm tháng. Lauritz đã tham gia dàn hợp xướng ở nhà thờ của giáo xứ với giọng boy soprano của mình.

Năm 1910, khi 18 tuổi, Melchior bắt đầu theo học thanh nhạc một cách chuyên nghiệp dưới sự hướng dẫn của Paul Bang tại Royal Opera School, Copenhagen. Lúc này giọng hát của anh được nhận định là baritone. Tuy đã từng hát trong Germont (La traviata, Giuseppe Verdi) trong một chuyến lưu diễn nhỏ cùng công ty Zwicki và Stagel Opera vào năm 1912 nhưng anh được coi là chính thức ra mắt với tư cách ca sĩ opera vào năm 1913 trong vai Silvio (Pagliacci, Ruggero Leoncavallo) dưới sự chỉ huy của nhà soạn nhạc Carl Nielsen tại Royal Theatre. Trong những năm tiếp theo, anh chủ yếu hát những vai baritone, thậm chí là bass cho Royal Danish Opera và những công ty opera khác ở vùng Scandinavia. Một ngày kia, trong chuyến lưu diễn vở opera Il Trovatore (Giuseppe Verdi), Melchior vào vai bá tước di Luna. Trong màn IV của tác phẩm có một duet dành cho di Luna và Leonora, để trợ giúp cho soprano, Melchior đã ngân vang một nốt c2. Acuzena của đêm diễn, mezzo-soprano người Mỹ Sara Cahier đã rất ấn tượng với giọng hát của người đồng nghiệp và đưa ra lời khuyên rằng giọng hát của anh là tenor. Bà còn đề nghị với nhà hát cho phép Melchior nghỉ một thời gian và cấp cho anh một khoản phụ cấp để “đại tu” lại giọng hát. Từ năm 1917-1918, Melchior đã theo học tenor danh tiếng người Đan Mạch Vilhelm Herold, người từng nhiều lần hát trong các vở opera của Wagner tại Covent Garden và Chicago những năm đầu thế kỷ. Đây chính là một bước ngoặt trong sự nghiệp của Melchior. Giọng baritone của anh đã được đúc kết thành giọng tenor với độ vang lớn và mạnh mẽ. Lần xuất hiện đầu tiên của Melchior dưới tư cách tenor diễn ra vào ngày 8/10/1918 trong Tannhäuser (Tannhäuser, Wagner) và vẫn là tại Royal Theatre. Tuy nhiên, anh vẫn chủ yếu được giao những vai baritone. Melchior chỉ có thêm được 2 vai tenor khác là Canio (Pagliacci) và Samson (Samson et Dalila, Camille Saint-Saëns). Một số bản thu âm giọng baritone của Melchior trong giai đoạn này vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay.

Melchior đã quyết định rời khỏi Đan Mạch, nơi mà môi trường opera quá nhỏ bé so với giọng hát của anh. Anh muốn khám phá những chân trời rộng mở hơn để có thể tập trung hoàn toàn vào những vai diễn của giọng tenor. Năm 1920, Melchior tham gia trong một chương trình biểu diễn tại Anh, Tình cờ, Guglielmo Marconi, người phát minh ra radio đã mời anh tham gia chương trình phát thanh thử nghiệm giải trí đầu tiên ở Chelmsford, được phát sóng tới các nước Scandinavia với sự tham gia của Nellie Melba. Giai đoạn này, Melchior chủ yếu biểu diễn ở London, anh thường xuyên xuất hiện trong các buổi hoà nhạc Proms được Henry Wood tổ chức tại Queen’s Hall. Trong một chương trình như vậy vào tháng 9/1920, khi đó Melchior hát Mit gewitter und sturm aus fernem meer (Der fliegende Holländer, Wagner). Tại đây, anh đã gặp Hugh Walpole, một tiểu thuyết gia rất hâm mộ Wagner, họ nhanh chóng trở thành bạn thân. Walpole đã hỗ trợ kinh phí cho giọng heldentenor trẻ để anh có thể tiếp tục nâng cao trình độ ca hát của mình với Victor Beigel và sau đó là Ernst Grenzebach tại Berlin. Grenzebach cũng là thầy giáo của Max Lorenz, người hiếm hoi có thể coi là đối trọng của Melchior trong những vở opera của Wagner. Sau đó, Melchior chuyển đến Munich để theo học với Anna von Mildenburg, giọng Wagnerian nổi tiếng tại Vienna State Opera đến năm 1923. Ông cũng tổ chức một buổi hoà nhạc cùng Frida Leider tại Berlin trong năm này.

Năm 1924 có thể được coi là một trong những năm quan trọng nhất trong sự nghiệp của Melchior. Ngày 14/5, Bruno Walter đến Covent Garden để chỉ huy Die walküre (Wagner) với Frida Leider trong vai Brünnhilde. Melchior, dù đã có được những thành công nhất định nhưng vẫn là một cái tên đặt ra nhiều nghi ngờ trong Siegmund đầy sức mạnh tại một nhà hát tầm cỡ như Covent Garden. Nhưng buổi biểu diễn đã thành công rực rỡ, là nền tảng cho những vinh quang trong tương lai của Melchior. Cosima và Siegfried Wagner, giám đốc của liên hoan Bayreuth, ngôi đền thiêng liêng của âm nhạc Wagner, đã chú ý đến tài năng của ông. Họ mời Melchior tham gia mở màn cho mùa diễn tại đây sau 10 năm đóng cửa vì Thế chiến thứ nhất, chỉ vài tuần sau sự kiện tại Covent Garden. Ông đã hát trong Siegmund và Parsifal (Parsifal). Cosima và Siegfried và cung cấp cho Melchior những ý đồ thực sự của Wagner dành cho vai diễn, đó là những chỉ dẫn vô cùng quý báu cho sự nghiệp sau này của ông. Trong buổi biểu diễn Parsifal tại Bayreuth vào tháng 7/1925, Adolf Hitler, người được biết đến như một tín đồ cuồng nhiệt của Wagner, cũng có mặt trong số khán giả. Theo như lời Walpole kể lại, ông ngồi cạnh lô của Hitler và khi Melchior hát “những giọt nước mắt đã tuôn rơi trên má Hitler”.

Artur Bodanzky, nhạc trưởng chính của Metropolitan Opera cũng có mặt tại Bayreuth để chứng kiến tài năng của Melchior. Ông đã mời giọng tenor đến Mỹ biểu diễn. Ngày 17/2/1926, Melchior đã lần đầu tiên xuất hiện tại Metropolitan Opera trong Tannhäuser, bên cạnh Maria Jeritza dưới sự chỉ huy của Bodanzky. Tuy nhiên, sự đón nhận Melchior là khá hờ hững tuy rằng đây được coi là một trong những vai diễn quen thuộc nhất của Melchior. Ông hát Tannhäuser nhiều đến mức đếm được số lời của nhân vật chính xác là 6.534 từ. Các nhà phê bình không quá ấn tượng với màn trình diễn của ông. Olin Downes bình luận trên New York Times: “Không thể phủ nhận rằng âm nhạc của Tannhäuser ngày hôm qua dường như rất cao đối với ông. Chất lượng âm sắc bị gò ép, thô ráp và nét giai điệu bị ảnh hưởng. Chắc có những tình trạng nhất thời ảnh hưởng đến giọng hát. Có sự cải thiện rõ rệt khi vở opera tiếp tục, và phần “kể chuyện” của màn cuối đã được truyền tải một cách ấn tượng”. Lawrence Gilman cũng có nhận xét tương tự trên New York Herald Tribune: “Thái độ, cử chỉ, cách nhập vai của ông đều vụng về và không thể diễn đạt được. Ông ta thiếu sự thoải mái, duyên dáng và tạo hình của nhân vật… Melchior khởi đầu sự nghiệp là một giọng baritone; nhưng khao khát những điều cao hơn, ông đã trở thành một giọng tenor. Việc chuyển đổi đã không hoàn toàn thành công – bạn sẽ ước rằng Melchior nên ở lại nơi vốn có của mình. Thang âm cao của ông không phải lúc nào cũng dễ nghe”. Khán giả tại đây vẫn chưa sẵn sàng đón nhận Melchior, trong hai mùa diễn đầu tiên tại đây, ông chỉ xuất hiện có 8 lần. Để mở rộng danh mục biểu diễn của mình cũng như tìm kiếm thêm kinh nghiệm trên sân khấu, Melchior trở về châu Âu, trở thành thành viên của Hamburg State Opera. Ngoài Wagner, Melchior cũng hát trong những vở opera của Verdi như OtelloAida, Turridu (Cavalleria rusticana, Piero Mascagni), Florestan (Fidelio, Ludwig van Beethoven). Những vai diễn này giúp ông có được giọng hát linh hoạt hơn. Việc hát quá nhiều âm nhạc của Wagner sẽ dẫn đến việc khiến cho giọng hát trở nên căng cứng và mệt mỏi. Melchior đã có được sự điều tiết hợp lý. Ông cũng cộng tác với những nhà hát hàng đầu của Đức tại Berlin và Munich. Melchior vẫn đều đặn xuất hiện tại Bayreuth và trở thành ngôi sao sáng tại đây, Cosima đã gọi ông là “Parsifal vĩ đại nhất”.

Melchior thực sự đạt đến đỉnh cao nghệ thuật vào đầu những năm 1930 khi ông liên tục qua lại 2 bên bờ Đại Tây Dương để biểu diễn tại Metropolitan Opera và Vienna State Opera. Sau sự khởi đầu đáng thất vọng, Melchior đã có màn chinh phục khán giả tại Metropolitan Opera vào ngày 5/3/1929 trong Tristan und Isolde, chia sẻ sân khấu với Gertrude Kappel và Karin Branzell. Philadelphia Evening Bulletin đã bình luận: “Một cảm xúc dữ dội vang lên trong màn I từ bộ ba ca sĩ cân bằng và đầy kịch tính, Kappel, Melchior và Branzell với những cung bậc tình cảm chính xác lan toả một tác phẩm lớn lao, xuyên suốt mê cung của sự đau khổ, đam mê và kiếm chế. Cứ thế tăng dần làn sóng của những giá trị kịch tính hoàn hảo cho đến màn cuối cùng khi Melchior và Kappel đạt đến đỉnh cao trong giọng hát và những biểu cảm sâu sắc, hơn cả những chiến thắng mang tính cá nhân, thêm vào đó, thâm chí còn có ý nghĩa lớn lao hơn đối với chính vở opera và thể hiện sự tôn kính đối với nghệ thuật”. Melchior đã ở vào độ chín của sự nghiệp. Metropolitan Opera trở thành mái nhà thân yêu đối với ông. Từ đó cho đến cuối của sự nghiệp, ông đều đặn xuất hiện tại đây, biểu diễn trong tất cả những vai diễn tuyệt vời nhất của mình, tổng cộng lên đến hơn 500 buổi, khẳng định mình là một trong những heldentenor vĩ đại nhất đầu thế kỷ 20.

Vẫn với Tristan, một lần nữa Melchior chinh phục khán giả Bayreuth vào năm 1930 dưới sự chỉ huy của Arturo Toscanini. Ngưỡng mộ mà hoá thân tuyệt vời của ông, Toscanini đã đặt cho ông biệt danh “Tristanissimo” – Tristan vĩ đại nhất. Tại Metropolitan Opera, Melchior đã thiết lập một sự hợp tác huyền thoại với Flagstad, soprano lừng danh cũng đến từ vùng Scandinavia như ông. Cùng nhau, họ đã hát trong 48 buổi Tristan und Isolde tại đây kể từ năm 1935-1941. Còn nhiều bản thu âm lưu giữ những khoảnh khắc âm nhạc thiên thần của họ. Sở hữu một thân hình to lớn, Melchior cao 6 feet, 4 inch (1,93m) và nặng tới 230 pound (104kg), ông sừng sững trên sân khấu như một vị thần Bắc Âu chính hiệu. Bạn bè đã gọi ông thân mật là “Người Đan Mạch vĩ đại”. Vốn xuất thân là một giọng baritone, Melchior có một khu trung âm đầy đặn, chắc nịch, ấm áp. Giọng hát của ông vang, tròn trịa, khoẻ khoắn, rung một cách tự nhiên, có thể xuyên thấu bất cứ cao trào nào của dàn nhạc mà không cần tỏ ra nỗ lực, nhưng không hề thiếu đi tính uyển chuyển và sự thay đổi màu sắc linh hoạt. Điều này được thể hiện rõ trong màn III của Tristan und Isolde với sự kiểm soát những nốt pianissimo nhẹ nhàng và êm dịu. Melchior là người cực lực phản đối lối hát gằn giọng như gào thét, vốn được coi là cách duy nhất để thể hiện âm nhạc Wagner vào thời bấy giờ. Chính vì vậy, Melchior đã duy trì được một sự nghiệp dài hơi, ngay cả khi giã từ sân khấu, chất lượng giọng hát của ông vẫn khiến nhiều khán giả ngỡ ngàng và đồng nghiệp ghen tị. Từng được hỏi về bí quyết thành công của mình, Melchior trả lời: “Bạn phải có chất liệu và bạn phải có tính cách. Sau đó bạn học cách sử dụng cả hai thứ. Bạn biết đấy, 80% của một nghệ sĩ là tính cách của anh ta”. Bất chấp việc là một ca sĩ, Melchior là người nghiện rượu và nghiện thuốc lá nặng. Ông cũng thường tận hưởng cuộc sống bằng cách đắm mình trong những bữa tiệc xa hoa.

Một trong những niềm đam mê khác của Melchior là săn bắn. Ông thường xuyên cùng với bạn bè tổ chức những cuộc đi săn, thậm chí là tới cả châu Phi. Một số trang phục của ông được làm từ da của những con thú mà ông đã săn được. Melchior coi đó là chiến lợi phẩm của mình. Ông cũng được trời phú cho khiếu hài hước. Melchior thường hay bày ra những trò đùa tai quái đối với những người bạn thân của mình. Melchior từng đánh tráo một cây đàn violin Stradivarius của bạn mình bằng một cây đàn bình thường và sau đó dẫm đạp lên nó trước sự chứng kiến hoảng hốt của chủ nhạc cụ đắt giá đó. Khi Thế chiến thứ hai nổ ra, Melchior đã định cư hẳn tại Mỹ và nhập quốc tịch vào năm 1947. Với khiếu hài hước của mình, Melchior còn tham gia trong các chương trình hài kịch và tạp kỹ được phát trên đài truyền thanh của Fred Allen và Bing Cosby. Ông cũng 5 lần tham gia vào những bộ phim ca nhạc của Hollywood, tuy nhiên chúng đều không được đánh giá cao. Ngày 17/2/1946, Metropolitan Opera long trọng tổ chức chương trình hoà nhạc kỷ niệm 20 năm ngày Melchior cộng tác với nhà hát. Ông đã hát trong 3 trích đoạn từ các vở opera của Wagner là Die walküre, Tristan und IsoldeLohengrin cùng với những soprano hàng đầu là Lotte Lehmann và Astrid Varnay. Nhạc trưởng của đêm diễn cảm động này là Fritz Busch. Sau chương trình, báo chí đều đồng loạt ca ngợi Melchior là giọng heldentenor nổi tiếng nhất trong thế hệ.

Cuộc Thế chiến kết thúc, cùng với nhạc trưởng Ezra Rachlin, Melchior đã tổ chức một chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới. Trong đó, sự trở về Đan Mạch thật sự có ý nghĩa, với lời mời được đích thân Vua Frederick IX, một nhạc trưởng nghiệp dư đưa ra. Năm 1950, Rudolf Bing trở thành tổng giám đốc của Metropolitan Opera. Một trong những hành động đầu tiên của Bing trong cương vị mới là từ chối gia hạn hợp đồng với Melchior. Cảm thấy bị xúc phạm, Melchior đe doạ sẽ không bao giờ trở lại với Metropolitan Opera nữa trừ khi một hợp đồng mới được ký kết. Bing trả lời: “Tôi không chuẩn bị để phục tùng bất cứ tối hậu thư nào, tôi không quan tâm nó đến từ bất cứ ai”. Và vào ngày 2/2/1950, Melchior đã hát vở opera cuối cùng của mình trong Lohengrin. Sau khi kết thúc, ông nói ngắn gọn một câu với khán giả: “Bây giờ con thiên nga đang trên đường về nhà”. “Bài ca thiên nga” là một cụm từ ẩn dụ để chỉ những hành động cuối cùng trước khi về hưu dựa trên một câu chuyện về con thiên nga vốn thường im lặng trong cả cuộc đời sẽ hát lên trước khi từ giã cõi đời. Nguyên nhân được đưa ra cho việc Bing không ký tiếp hợp đồng với Melchior nhiều khả năng là Bing không hài lòng với việc tham gia quá nhiều của ông vào những lĩnh vực ngoài opera và Melchior cũng tỏ vẻ không hứng thú với quá nhiều buổi tập luyện và có xu thế ngày càng gia tăng.

Sau khi chia tay Metropolitan Opera, Melchior cũng giã từ sân khấu opera. Ông chuyển đến sinh sống tại California và tham gia nhiều vào các chương trình hoà nhạc cũng như những hoạt động mà Bing “không ưa thích”. Melchior chính thức tuyên bố nghỉ hưu vào năm 1955 nhưng trên thực tế ông vẫn thỉnh thoảng xuất hiện trong một số buổi hoà nhạc, trong đó đáng chú ý vào năm 1960 khi ông kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 với Siegmund trong màn I Die walküre trên đài phát thanh Copenhagen và vẫn khiến khán giả choáng ngợp vì giọng hát lồng lộng của mình. Nhận thức được rằng để trở thành heldentenor không phải là một quá trình dễ dàng, đòi hỏi một sự luyện tập bền bỉ và kiên nhẫn, vào cuối những năm 1960, thông qua Juilliard School, ông đã thành lập The Lauritz Melchior Heldentenor Foundation nhằm giúp đỡ những ca sĩ opera trẻ, tiềm năng có được khoảng thời gian cần thiết để được đào tạo kỹ thuật trước khi bắt tay vào những vở opera của Wagner. Mùa hè năm 1972, Melchior xuất hiện tại San Francisco Opera nhưng với tư cách chỉ huy dàn nhạc trong Radetzky March (Johann Strauss I) nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập nhà hát. Đó cũng là lần xuất hiện cuối cùng của ông trước công chúng. Ngày 18/3/1973, chỉ hai ngày trước sinh nhật lần thứ 83 của mình, Melchior qua đời tại Santa Monica, California vì biến chứng sau một ca phẫu thuật cắt túi mật khẩn cấp. Lễ tang của ông được tổ chức tại Los Angeles và theo di chúc, Siegfrieds Trauermusik (Đám tang của Siegfried) trích từ Götterdämmerung (Wagner) được phát tại buổi lễ. Tro cốt của ông đưa về chôn tại nghĩa trang Assistens, Copenhagen. Francis Robinson, trợ lý giám đốc của Metropolitan Opera, người đã gắn bó với Melchior trong hơn 30 năm đã thốt lên khi nhận được tin: “Ông ấy một mình một đẳng cấp. Ông ấy là nghệ sĩ vĩ đại bẩm sinh, là một cái gì đó trên quy mô của thác Niagara”. Tuy nhiên, vì những mâu thuẫn trong quá khứ giữa Melchior và Bing, không một lễ tưởng niệm rầm rộ nào được Metropolitan Opera tổ chức mà họ chỉ gửi hoa đến đám tang ông.

Kể cả cho đến ngày nay, khi nói về các giọng tenor trong opera của Wagner, cái tên Melchior luôn là người đầu tiên được nhắc đến như người sở hữu các tiêu chuẩn vàng. Chưa bao giờ có một heldentenor nào tiếp cận được với bảng màu đa dạng và rộng rãi về sắc thái trong giọng hát như Melchior từng sở hữu. Nhờ khả năng điều khiển hơi thở đáng kinh ngạc của mình, Melchior đã có thể định hình và thực hiện một đường legato tốt ngay cả khi cần phải tạo ra một giai điệu mạnh mẽ trong một bản cantilena mở rộng. Trái ngược với dải trung âm tinh tế và mượt mà của mình, ông sở hữu những nốt cao tuyệt đẹp. Đối lập với nhiều heldentenor khác, ông hoàn toàn không gặp khó khăn khi hát c2. Tất nhiên cũng có những lời chỉ trích, đặc biệt vào nhịp độ của ông. Melchior đôi khi thường với với một nhịp độ của riêng mình, thường là sớm hơn vài nhịp, điều gây ra sự bực bội và khó chịu đối với nhạc trưởng và những bạn diễn. Bất chấp những thiếu sót đó, đúng như nhà phê bình Desmond Shaw-Taylor đã nhận xét: “Tầm vóc anh hùng trong cách hát của ông, ngay cả khi chỉ qua những bản thu âm, đã ghi dấu ấn ông là heldentenor của thế kỷ”.

Ngọc Tú tổng hợp

Nguồn:
naxos.com
cs.hs-rm.de
nytimes.com