Tác giả: George Gershwin.
Tác phẩm: Rhapsody in Blue
Thời gian sáng tác: Năm 1924 cho piano và dàn nhạc jazz (Ferde Grofé thực hiện việc phối khí cho dàn nhạc). Grofé còn thực hiện 2 bản phối khí khác vào năm 1926 và 1942, trong đó phiên bản năm 1942 dành cho piano và dàn nhạc cổ điển ngày nay thường được biểu diễn thường xuyên nhất.
Công diễn lần đầu: Phiên bản gốc được trình diễn vào ngày 12/2/1924 tại Aeolian Hall, New York.
Độ dài: Khoảng 15-17 phút.
Thành phần dàn nhạc:
Phiên bản năm 1924: Piano độc tấu, oboe, clarinet (kiêm E-flat clarinet và bass clarinet), alto saxophone (kiêm soprano saxophone 2), tenor saxophone (kiêm soprano saxophone 1), baritone saxophone, 2 horn, 2 trumpet, 2 trombone, tuba, timpani, bell, cymbals, snare drum, triangle, gong, piano (kiêm celesta), guitar (kiêm banjo), violin và double bass.
Phiên bản năm 1942: Piano độc tấu, 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, bass clarinet, alto saxophone, tenor saxophone, 3 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, cymbals, gong, glockenspiel, snare drum, celesta, triangle, banjo và dàn dây.

Tối ngày 3/1/1924, George Gershwin đang chơi bi a với người bạn Buddy De Sylva thì anh trai ông, Ira đến, cầm theo tờ báo The New York Tribune. Trong báo có đăng thông tin về buổi hoà nhạc có cái tên rất kêu: “Một thử nghiệm trong âm nhạc hiện đại” của ban nhạc jazz Paul Whiteman vào ngày 12/2, sẽ giới thiệu một tác phẩm âm nhạc mới lấy cảm hứng từ jazz. Chương trình có thể sẽ có sự tham dự của những tên tuổi nổi tiếng thời bấy giờ như Sergei Rachmaninov, Leopold Stokowski và Jascha Heifetz. Và điều đặc biệt nhất, bài báo ghi rõ, tác giả âm nhạc của “một bản hoà tấu jazz mới” sẽ là George Gershwin. Gershwin rất bất ngờ trước thông tin này vì ông luôn lịch sự từ chối những lời đề nghị trước đó của Whiteman. Sáng hôm sau, ông gọi điện cho Whiteman và được biết rằng đối thủ chính của Vincent Lopez đã lên kế hoạch về một chương trình tương tự và Whiteman một lần nữa thuyết phục Gershwin và lần này ông đã nhận lời.

Thời gian không còn nhiều, Gershwin bắt tay ngay vào sáng tác tác phẩm. Năm 1931, ông kể lại câu chuyện với người viết tiểu sử Isaac Goldberg rằng ý tưởng về Rhapsody in Blue nảy sinh trên chuyến tàu tới Boston:

“Đột nhiên trong tôi nảy ra một ý tưởng. Đã có quá nhiều lời bàn tán về hạn chế của jazz…jazz, phải có nhịp điệu nghiêm ngặt. Nó phải bám vào điệu nhảy. Tôi phải giải quyết, nếu có thể, để tiêu diệt quan điểm sai lầm này bằng một đòn mạnh. Lấy cảm hứng từ mục tiêu này, tôi bắt đầu sáng tác với sự nhanh chóng không kiểm soát. Trong đầu tôi không có kế hoạch nào – không có cấu trúc nào mà âm nhạc của tôi sẽ phù hợp. Anh thấy đấy, bản rhapsody bắt đầu như một mục đích, không phải một kế hoạch.

…Nó ở trên tàu, với nhịp điệu của thép, của tiếng kêu lách cách, thường rất kích thích với nhà soạn nhạc… Tôi thường xuyên nghe thấy âm nhạc giữa những tiếng ồn. Và rồi, bỗng nhiên tôi nghe thấy bản nhạc, tôi nhìn thấy âm nhạc ngay trên trang giấy – bản hoàn chỉnh của rhapsody, từ đầu đến cuối. Không chủ đề nào mới đối với tôi, nhưng tôi đã làm việc với những chất liệu chủ đề đã có trong tâm trí mình và cố gắng hình thành bố cục một cách tổng thể. Tôi thấy nó như một kính vạn hoa của nước Mỹ, một sự tan chảy đồng nhất rộng lớn của chúng ta, về một giấc mơ Mỹ đồng nhất, về nỗi buồn của chúng tôi, một sự điên cuồng của đô thị. Vào thời điểm tôi đến Boston, tôi đã có một cốt truyện cố định của tác phẩm, để phân biệt so với nội dung thực tế của nó.

Về chủ đề giữa, nó chợt đến với tôi, giống như âm nhạc của tôi đôi khi cũng vậy. Đó là tại nhà của một người bạn, sau khi tôi trở về Gotham. Ở đó tôi đã huyên náo (bên đàn piano) mà không hề nghĩ đến bản rhapsody màu xanh hay bất cứ màu nào khác. Ngay lập tức tôi nghe thấy chính mình đang chơi một chủ đề mà chắc hẳn đã ám ảnh tôi, tìm kiếm lối thoát. Ngay sau khi nó chảy ra khỏi ngón tay, tôi biết mình đã tìm thấy nó… Một tuần sau khi trở về từ Boston, tôi đã hoàn thành Rhapsody in Blue”.

Tổng phổ gốc của tác phẩm được Gershwin hoàn thành với phiên bản dành cho 2 piano (có ghi chú thêm về một số nhạc cụ khác có thể có). Mặc dù Gershwin thú nhận kiến thức về lý thuyết âm nhạc của mình lúc đó chỉ phù hợp với một con tem 3 xu, khiến ông không thể sáng tác cho một dàn nhạc hoàn chỉnh, nhưng Rhapsody in Blue đã trở thành một tác phẩm mang tính biểu tượng và là bước ngoặt trong lịch sử âm nhạc. Ông đã chuyển sáng tác của mình cho Ferde Grofé, người chuyên phối khí cho phần biểu diễn của Whiteman và Grofé đã hoàn thành công việc của mình vào ngày 4/2, chỉ 8 ngày trước buổi công diễn. Ban đầu Gershwin định đặt tên tác phẩm là American Rhapsody, nhưng Ira đã đề nghị đổi tên thành Rhapsody in Blue sau khi tham dự một triển lãm nghệ thuật của James McNeill Whistler và được chiêm ngưỡng những bức tranh có tên gọi đầy màu sắc như Nocturne in Black and Gold: The Falling Rocket và Arrangement in Grey and Black. Từ blue chắc chắn gợi lên “The Blues” và đó là nhạc jazz.

Buổi biểu diễn ra mắt tác phẩm diễn ra vào một chiều tuyết rơi ngày 12/2/1924 tại Aeolian Hall, New York. Trong số khán giả không có Rachmaninov và Heifetz nhưng có Igor Stravinsky, Fritz Kreisler và Walter Damrosch. Tiếng glissando trên clarinet nổi tiếng mở đầu tác phẩm là một sự tình cờ. Clarinet của ban nhạc Whiteman, Ross Gorman, trong một buổi tập đã ngẫu hứng những ô nhịp đầu tiên, kéo dài các ghi chú của Gershwin. Nhà soạn nhạc cũng có mặt, tỏ ra vô cùng thích thú và yêu cầu Gorman biểu diễn theo đúng như vậy. Phần mở đầu này giải phóng một loạt các ý tưởng âm nhạc đầy màu sắc, kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Các nhịp điệu đảo lộn nhịp nhàng và những sắc thái sặc sỡ sau đó đã nhường chỗ cho một giai điệu ấm áp, rộng rãi trên piano. Âm nhạc mang màu sắc jazz không thể bàn cãi với chất liệu chính được lấy từ những bài hát của người da đen.

Dàn nhạc biểu diễn buổi ra mắt gồm 23 thành viên với Gershwin chơi piano. Ông đã ngẫu hứng một số đoạn trên sân khấu, phần piano này không được viết ra nên không còn thông tin gì về chính xác những gì đã được biểu diễn. Tác phẩm đã được hoan nghênh một cách ngoạn mục, Olin Downes, nhà phê bình âm nhạc đã viết trên New York Times: “Khán giả đã bị khuấy động, nhiều người tỏ ra phấn khích với cảm giác vừa tìm được một tài năng mới… Nhiều tràng pháo tay ầm ĩ đã dành cho tác phẩm của Gershwin”. Tác phẩm đã thành tiết mục “đinh” của ban nhạc Paul Whiteman. Họ đã biểu diễn liên tục trong các chuyến lưu diễn, kể cả tại Anh vào những năm 1925 và 1926.

Mặc dù được khán giả đón nhận nhưng đương thời các nhà phê bình tỏ ra không hứng thú với tác phẩm, trong đó những chỉ trích nhiều nhất tập trung vào vấn đề bản nhạc không có cấu trúc, được viết ra theo một hình thức lộn xộn. Tuy nhiên, ngày nay, Rhapsody in Blue vẫn là tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất của Gershwin, dễ tiếp cận và đáng yêu ngay từ những nốt nhạc đầu tiên, một kho báu không thể thay thế được của thời đại nhạc jazz, chiếc cầu nối giữa nhạc cổ điển và jazz và là một biểu tượng của văn hoá Mỹ.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
sfsymphony.org
orsymphony.org
houstonsymphony.org