Thông tin chung
Tác giả: Johannes Brahms.
Tác phẩm: Giao hưởng số 4 giọng Mi thứ, Op. 98
Thời gian sáng tác: Năm 1884.
Công diễn lần đầu: Ngày 25/10/1885 dưới sự chỉ huy của tác giả và Meiningen Court Orchestra tại Meiningen, Đức.
Độ dài: Khoảng 45 phút.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương
Chương I – Allegro non troppo (Mi thứ)
Chương II – Andante moderato (Mi trưởng)
Chương III – Allegro giocoso (Đô trưởng)
Chương IV – Allegro energico e passionato (Mi thứ)
Thành phần dàn nhạc: 2 flute (flute 2 kiêm piccolo), 2 oboe, 2 clarinet (giọng La và Đô), 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn (giọng Mi, Pha và Đô), 2 trumpet (giọng Mi và Đô), 3 trombone (alto, tenor và bass), timpani, triangle và dàn dây.
Hoàn cảnh sáng tác
Vào thế kỷ 19, âm nhạc được định nghĩa phần lớn với sự rạn nứt về thẩm mỹ giữa Richard Wagner và Brahms. Wagner được coi là người tiên phong không sợ hãi, âm nhạc của ông được tự mô tả là “Âm nhạc của tương lai”, dựa trên các khái niệm và triết lý ban đầu của riêng mình, đã đưa âm nhạc vào lãnh thổ chưa được khám phá trước đây. Wagner cũng cho rằng Ludwig van Beethoven đã thực hiện tất cả những đổi mới tuyệt vời trong hình thức giao hưởng và do đó người kế thừa thực sự của Beethoven sẽ ghi dấu ấn của họ trong các thể loại khác. Theo định nghĩa của Wagner, một nhà soạn nhạc tiếp tục viết các bản giao hưởng là ngu ngốc.
Ngược lại, trong suốt cuộc đời của mình, về cơ bản, Brahms được coi là người bảo thủ, một bậc thầy về giai điệu, nhưng phản ánh phong cách của quá khứ, và theo như Wagner, không có bổ sung độc đáo nào vào các hình thức âm nhạc. Tất cả những điều này để khái quát một chân lý: Brahms chỉ làm việc với những hình thức và hòa thanh truyền thống. Tuy nhiên, âm nhạc của Brahms thể hiện những sáng tạo vô cùng tinh tế và độc đáo. Thay vì từ bỏ các thể loại và hình thức đã được thiết lập sẵn, Brahms đào sâu vào bên trong, nâng chúng lên thành những tác phẩm mang tầm thời đại. Brahms luôn bày tỏ sự kính trọng với những bậc thầy trong quá khứ và khả năng tuyệt vời của Brahms bao gồm việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thể loại xưa cũ và trí tuệ của riêng ông. Chính những quan điểm cho rằng giao hưởng là một thể loại đã dần rơi vào tầm thường sau những đỉnh cao mà Beethoven đạt được đã thôi thúc Brahms sáng tác nên bốn bản giao hưởng của mình, như những nỗ lực để chứng minh rằng giao hưởng vẫn là một thể loại phù hợp về mặt thẩm mỹ.
Brahms đã sáng tác Giao hưởng số 4 trong mùa hè 1884-1885 tại Mürzzuschlag, nơi nghỉ dưỡng mùa hè của ông ở vùng núi phía tây nam Vienna, một thị trấn yên tĩnh nép mình bên dãy Alps. Bất chấp khung cảnh tuyệt đẹp xung quanh và danh tiếng vang dội của ông, tác phẩm lại nhuốm một màu u ám. Bất chấp vẻ đẹp và sự ấm áp của bản Giao hưởng số 4 này, tác phẩm vẫn tồn tại một tính chất bi kịch không thể phủ nhận. Đã có nhiều suy đoán về căn nguyên của sự việc này. Nhiều người cho rằng đó chỉ đơn giản là Brahms muốn có một bản giao hưởng kết thúc ở giọng thứ tương phản với ba bản trước đó đều kết thúc ở giọng trưởng. Ngoài ra, sự chiêm nghiệm về bi kịch Hy Lạp có thể cũng tác động đến tâm lý của nhà soạn nhạc: trong khi sáng tác bản giao hưởng, Brahms đọc ngấu nghiến các tác phẩm của Sophocles. Tuy nhiên, ý kiến có vẻ thuyết phục hơn cả là sự u uất đó đã tồn tại trong chính con người của Brahms, ông đã suy nghĩ nhiều về cái chết khi ông bước vào tuổi 50 như trong một bức thư Brahms gửi cho nhà xuất bản của mình, ông đã hướng dẫn về những việc cần làm với bản nhạc trong trường hợp “điều tồi tệ nhất xảy ra với tôi”.
Về mặt âm nhạc, Giao hưởng số 4 của Brahms được nhiều nhà phê bình đánh giá là hay nhất của ông trong số các tác phẩm cùng thể loại. Chúng tiếp tục phát triển các kỹ thuật đáng kinh ngạc của Brahms. Mỗi giai điệu phát triển liền mạch và hữu cơ so với những gì đã có trước đó, tạo ra một mạng lưới liên kết âm nhạc phức tạp. Ngôn ngữ của Brahms cũng trở nên cực kỳ tập trung và cô đọng. Kết hợp với sự nghiêm túc trong công việc, sự phong phú và mật độ mới này khiến Brahms lo lắng về việc bản giao hưởng sẽ được đón nhận như thế nào. Trong một lá thư gửi cho Hans von Bülow, lúc này đang là nhạc trưởng của Meiningen Court Orchestra, Brahms cho biết: “Tôi thực sự sợ nó có vị như khí hậu ở đây. Quả anh đào không chín ở những phần này; bạn sẽ không ăn chúng”! Nỗi sợ hãi của ông càng trở nên trầm trọng hơn khi nghe thử bản giao hưởng trên hai cây đàn piano cho một nhóm bạn và những người hâm mộ thân thiết nhất của mình. Sau chương nhạc đầu tiên, nhà phê bình Eduard Hanslick, một người kiên định đấu tranh cho âm nhạc của Brahms, đã thú nhận rằng: “Trong toàn bộ chương nhạc đầu tiên, tôi có cảm giác rằng mình bị hai người cực kỳ thông minh đánh bại”. Bülow đã mang lại những tin tức tốt lành cho Brahms khi phúc đáp: “Không, bản số 4 khổng lồ, hoàn toàn tuân theo đường lối của chính mình, khá mới mẻ, mang tính cá nhân riêng biệt. Tỏa ra năng lượng vô song từ nốt nhạc đầu tiên đến nốt nhạc cuối cùng”.
Brahms đã chỉ huy Giao hưởng số 4 của mình trong buổi ra mắt cùng Meiningen Court Orchestra vào ngày 25/10/1885. Thay vì những lo lắng của Brahms, khán giả đã đón nhận tác phẩm rất nhiệt tình, họ đã vỗ tay hoan nghênh sau mỗi chương nhạc. Sau khi kết thúc chương trình, khán giả ra về, Công tước của Meiningen và đoàn tùy tùng cùng với những vị khách quý vẫn ở trong sân khấu để nghe Brahms chỉ huy lại chương I và III. Tác phẩm chứa đựng nhiều tham vọng của Brahms đến nỗi người bạn thân Elisabeth von Herzogenberg đã viết cho ông về nỗi sợ hãi của bà rằng ông đang tập trung quá nhiều vào việc tạo ra các kết nối chủ đề phức tạp sẽ che khuất chúng đối với người nghe mới mẻ: “Có người vui mừng với tất cả sự phấn khích của một nhà thám hiểm hoặc nhà khoa học khi khám phá ra bí mật của sự sáng tạo của bạn! Nhưng có một điểm khiến người ta nghi ngờ… rằng vẻ đẹp của nó không phải người yêu âm nhạc bình thường nào cũng có thể tiếp cận được”. Tuy nhiên, ngày nay bản Giao hưởng số 4 của Brahms đã được coi là một tuyệt tác và rất thường xuyên được biểu diễn.
Phân tích
Chương I
Chương I bắt đầu với một giai điệu đơn giản bốn nốt nhạc Si-Son-Mi-Đô. Mọi thứ tiếp theo đều phát triển từ chủ đề đẹp đẽ đầy ám ảnh này, có thể nhẹ nhàng như hơi thở, có thể là những cơn lên xuống mạnh mẽ của thuỷ triều. Sự phát triển của chủ đề chính sớm bị gián đoạn vì một motif phô trương trong kèn gỗ. Horn vang lên, giới thiệu một giai điệu mới trên bè cello với những đoạn nhạc dài, tương phản với phần đệm nặng nề, kỳ lạ. Ngay sau đó, horn mang đến những giai điệu ngọt ngào hơn với màu sắc được thay đổi trên kèn gỗ. Nhưng rồi những âm thanh bí ẩn đáng lo ngại đã phá vỡ khung cảnh điền viên này, theo sau là một trường đoạn kèn lệnh crescendo hào hùng. Giai điệu mở đầu được xuất hiện trở lại nhưng dẫn đến một phần cởi mở hơn. Âm nhạc tương tác với nhau dữ dội hơn, các đoạn gay cấn xen kẽ với những giai điệu yên tĩnh, nhẹ nhàng. Khi giai điệu ban đầu trở lại, ban đầu nó bị những hoà âm lạ lùng kéo dài và ngắt quãng che khuất. Và lúc nó trở về hình thái ban đầu là thời điểm âm nhạc mang đến một cảm giác huyền bí. Sau sự phát triển của một số chủ đề khác, những câu kèn lệnh hào hùng trở lại, nhưng giờ đây mang đến một cơn bão dữ dội. Chủ đề chính cũng được xuất hiện, nhưng trong một hình hài khác khi chương nhạc kết thúc.
Chương II
Chương II như một nocturne chậm rãi bắt đầu với một motif trên horn. Sự độc đáo bất thường của nó đến từ việc Brahms đã sử dụng âm giai Phrygian, phổ biến trong âm nhạc Trung cổ và Phục hưng trước đó. Màu sắc độc đáo này làm tăng thêm bầu không khí lãng mạn, cổ kính của bản giao hưởng. Tiếng horn mở đầu chương nhạc nhanh chóng trở thành một giai điệu phản chiếu trong kèn gỗ được những tiếng pizzicato của dàn dây đệm. Sau một giai điệu, nhẹ nhàng tương phản trên bè violin, một motif mạnh mẽ hơn được biến đổi thành giai điệu tuyệt đẹp trên cello (có cùng giai điệu nhưng ở tốc độ chậm hơn một nửa). Sau khi chủ đề chính được tái hiện trên viola, tiếng horn trở lại với cường độ tăng dần, đạt đến cao trào trong toàn bộ dàn nhạc được dựa trên motif mạnh mẽ lúc trước. Giai điệu tuyệt đẹp của cello, được chơi trên dây trầm nhất, biểu cảm nhất mang đến tâm trạng an ủi. Chương nhạc kết thúc trong một phiên bản motif của horn được chuyển soạn cho toàn bộ dàn nhạc với hoà thanh lạ lẫm tạo nên một cảm giác thú vị.
Chương III
Chương III là một khúc scherzo mang đến một cảm giác náo nhiệt với sự tham gia của piccolo và triangle. Những màn phô trương vui vẻ xen kẽ với những đoạn chen nhẹ nhàng hơn. Âm nhạc mang một chút hài hước và phiêu lưu tinh nghịch, mang đến không khí của một lễ hội. Phong cách và tâm trạng của chương nhạc scherzo này cũng thể hiện sự tôn kính trực tiếp tới Beethoven, người đã mang scherzo vào trong các bản giao hưởng, thay thế cho hình thức minuet xưa cũ. Tuy nhiên, chương nhạc cũng không phải là một scherzo điển hình, nó được viết ở nhịp 2/4, có hình thức sonata và không có phần trio.
Chương IV
Trong nhiều năm, Brahms đã bị hình thức chaconne của thời kỳ Baroque thu hút, một phong cách biến tấu liên tục, có nhịp độ từ vừa phải đến chậm, thường được viết trong nhịp 3/4. Về mặt hoà thanh, nó thay đổi từ ô nhịp này sang ô nhịp khác. Trong một bức thư gửi Clara Schumann vào năm 1877, Brahms viết: “Nếu tôi có thể hình dung ra bản thân đang viết, hoặc thậm chí hình dung ra một tác phẩm như vậy, tôi chắc chắn rằng sự phấn khích tột độ và căng thẳng về cảm xúc sẽ khiến tôi phát điên”. Ông đã được thoả mãn với chương IV bản giao hưởng này. Nguồn cảm hứng của Brahms đến từ cantata Nach dir, Herr, verlanget mich, BWV 150 của Johann Sebastian Bach. Chương nhạc là một chaconne, mở đầu với một chuỗi giao cắt dữ dội của các violin. Các biến tấu sau đó được sắp xếp theo một hình mẫu với phần giữa tương phản. Tiết tấu trở nên chậm hơn, một đoạn flute độc tấu thê lương, mong manh đến nao lòng. Rồi âm nhạc chuyển sang giọng trưởng với một tập hợp các biến tấu.
Đột nhiên, đoạn chorale ban đầu trở lại với sức mạnh tàn khốc. Âm nhạc ngày càng trở nên bạo lực và tuyệt vọng khi dần về cuối. Các biến tấu mang nhiều tâm trạng, tha thiết, giận dữ, đáng sợ nhưng phần chorale vẫn luôn ở đó. Tổng cộng có tất cả 32 biến tấu. Tác phẩm khép lại trong một coda ở giọng thứ, là lần duy nhất Brahms hành động như vậy đối với một bản giao hưởng của mình, mang đến một tâm trạng thê lương, khắc khoải và thậm chí, tuyệt vọng.
Cuộc hành trình từ Giao hưởng số 1 đến số 4 của Brahms đi từ lạc quan đến bi quan, từ khả năng định hình lại thế giới đến cam chịu trước những phiền muộn. Với tác phẩm này, Brahms có được một bản giao hưởng tuyệt vời dường như được sinh ra từ những cảm xúc đối lập: u sầu và vui vẻ, dữ dội và hào hứng, trang nghiêm và hồ hởi. Clara đã nhận ra sự song tính này ngay từ chương nhạc đầu tiên: “Cứ như thể một người đang ở trong mùa xuân giữa những bông hoa đang nở rộ và niềm vui và nỗi buồn lần lượt tràn ngập tâm hồn”. Bản Giao hưởng số 4 của Brahms mang trong mình một vẻ đẹp tinh khiết, được đúc kết bằng trái tim và khối óc của một bậc thầy vẫn sẽ là một kiệt tác trong kho tàng âm nhạc của nhân loại.
Cobeo



