CHƯƠNG III – GIẢI THƯỞNG LỚN ROME

 

Vậy là tôi đã giành được giải nhất piano. Chắc chắn là tôi vừa hạnh phúc vừa tự hào, nhưng khó có thể đủ sống bằng ký ức về sự trọng vọng này; những nhu cầu của cuộc sống vẫn ở đó, thúc bách, khắc nghiệt, đòi hỏi một thứ gì đó vững chắc hơn và trên hết là thực tế hơn. Tôi thực sự không thể tiếp tục nhận lòng hiếu khách của người chị thân yêu mà không đóng góp chi phí cá nhân. Vậy là để cải thiện tình cảnh hiện tại, tôi dạy xướng âm và piano tại một ngôi trường nhỏ bé nghèo nàn trong khu phố. Lương thì bèo bọt, việc thì vất vả! Tôi đã sống một cuộc sống bấp bênh và nhọc nhằn như vậy. Tôi được mời chơi piano tại một trong những quán cà phê lớn ở Belleville; đây là quán cà phê đầu tiên có nhạc sống, một màn xen giữa được nghĩ ra, nếu không phải để giải trí thì chí ít cũng để giữ chân thực khách. Chỗ này trả tôi ba mươi franc mỗi tháng!

Quantum mutatus… các con thân yêu ơi, cha có thể nói như thi sĩ; biết bao thay đổi kể từ hồi ấy. Ngày nay, chỉ cần “tham dự” một cuộc thi là các sinh viên trẻ đã có chân dung đăng báo; ngay từ đầu sự nghiệp họ đã được phong làm ông lớn, tất cả được kèm theo vài dòng tán tụng, thật may là người ta không thêm từ “khổng lồ” khi ca tụng chiến thắng của họ!… Đó là vinh quang, là màn tán dương với tất cả sự khiêm tốn.

Vào năm 1859, chúng tôi không được tôn vinh theo cách này!…

Nhưng Thượng đế, một số người gọi là Thần số mệnh, vẫn đang dõi theo.

Một người bạn, mà tôi vui mừng biết bao vì vẫn còn trên thế gian này, đã kiếm cho tôi chỗ dạy tốt hơn. Người bạn này không như nhiều người tôi quen biết sau này: những kẻ luôn cần sự giúp đỡ từ bạn nhưng lại lẩn tránh khi bạn muốn được họ an ủi trong cảnh khốn cùng; tóm lại là những người bạn luôn giả vờ rằng hôm trước họ đã bảo vệ bạn trước những cuộc công kích ác ý để cho bạn thấy những tình cảm tốt đẹp của họ, nhưng đồng thời lại hành hạ bạn khi mách lại với bạn những lời lẽ gây tổn thương nhằm vào bạn. Tuy nhiên tôi phải nói thêm rằng tôi đã có được những tình bạn vững bền mà tôi tìm thấy trong những thời khắc mệt mỏi và chán nản.

Nhà hát Trữ tình, khi đó nằm trên Đại lộ Temple, đã nhận tôi vào dàn nhạc của họ với tư cách nhạc công trống định âm. Rồi Strauss cha dũng cảm, người chỉ huy dàn nhạc vũ hội của Nhà hát Opéra, đã giao cho tôi phụ trách các bè trống, trống định âm, chiêng, kẻng ba góc và mọi nhạc cũ gõ khác. Tôi rất mệt mỏi khi phải thức mỗi thứ Bảy từ nửa đêm đến sáu giờ sáng; nhưng tất cả những điều này nghĩa là tôi kiếm được 80 franc mỗi tháng! Tôi cảm thấy mình giàu có như một ông chủ ngân hàng… và hạnh phúc như một anh thợ giày.

Nhà hát Trữ tình được Adolphe Adam thành lập và tiếp quản địa điểm của Nhà hát Lịch sử do Alexander Dumas cha xây dựng.

Lúc đó tôi sống ở số 5 phố Ménilmontant, trong một tòa nhà rộng như một kiểu cư xá lớn. Láng giềng cùng tầng và chung vách với tôi là những cô chú hề từ Rạp xiếc Napoléon ngay gần nhà chúng tôi.

Từ cửa sổ một căn áp mái, Chủ nhật nào tôi cũng có thể tận hưởng, dĩ nhiên là miễn phí, những cơn kịch phát của dàn nhạc vẳng ra từ Những buổi hòa nhạc nổi tiếng mà Pasdeloup chỉ huy trong rạp xiếc này. Điều này xảy ra khi công chúng chen chúc trong khán phòng quá nóng kêu gào đòi không khí!… và cửa sổ con tầng ba được mở ra để thỏa mãn họ.

Từ chuồng chim của tôi, đó là từ thích hợp, tôi vỗ tay hoan hô khúc ouverture TannhæuserGiao hưởng Ảo tưởng với niềm vui cuồng nhiệt, tóm lại các thần tượng âm nhạc của tôi là Wagner và Berlioz.

Tối tối vào lúc sáu giờ – nhà hát mở màn từ rất sớm – tôi đi qua phố Fossés-du-Temple, gần nhà mình, đến lối vào dành cho nghệ sĩ của Nhà hát Trữ tình. Thời đó ở bên trái Đại lộ Temple chỉ là một loạt liên hoàn các nhà hát; vậy nên tôi đi dọc phía mặt sau các nhà hát Funambules, Petit-Lazari, Délassements-Comiques, Cirque Impérial và Gaîté. Những người chưa từng biết về cái góc này của Paris năm 1859 sẽ không thể hình dung nổi.

Phố Fossés-du-Temple này, nơi mọi lối vào hậu trường đều mở ra, là một kiểu xứ sở thần tiên nơi những diễn viên phụ nam và nữ từ tất cả các nhà hát này chen chúc trên vỉa hè lờ mờ sáng mà chờ đợi; bọ chét và vi khuẩn tha hồ sinh sôi nảy nở; và ngay cả trong Nhà hát Trữ tình chúng tôi, phòng hóa trang của các nghệ sĩ cũng chỉ là cái tàu ngựa cũ kĩ nơi từng giữ những con ngựa có vai diễn trong các vở kịch lịch sử.

Ấy thế mà với tôi, thật là một thú vui khôn tả, một phần thưởng đáng ước ao khi được ngồi vào vị trí của mình trong dàn nhạc tuyệt vời do Deloffre chỉ huy! Ôi chao! Những buổi diễn tập Faust! Thật là hạnh phúc khôn tả khi từ cái góc nhỏ của mình, tôi có thể thỏa thích ngắm nhìn Gounod vĩ đại của chúng ta, người ở trên sân khấu để giám sát các buổi diễn tập!

Sau này, biết bao lần khi vai kề vai rời khỏi các phiên họp của Học viện – Gounod sống ở Quảng trường Malesherbes – chúng tôi nhắc lại cái thời khi mà Faust, ngày nay đã trải qua hơn một nghìn buổi biểu diễn, được báo chí bàn cãi rất nhiều song cũng được công chúng, những người hiếm khi nhầm lẫn, tán thưởng nhiều ngang thế.

Vox populi, vox Dei!

Tôi cũng nhớ khi mình ngồi dàn nhạc tham gia các buổi biểu diễn vở Bức tượng của Reyer. Một tổng phổ tuyệt vời làm sao! Một thành công rực rỡ xiết bao!

Tôi tưởng như vẫn trông thấy Reyer ở hậu trường trong một số buổi biểu diễn khi ông đánh lừa sự cảnh giác của lính cứu hỏa để hút xì gà liên miên. Đó là một thói quen mà ông không thể bỏ được. Một hôm tôi nghe ông kể rằng lúc ở trong phòng của Đức cha Liszt tại Rome, nơi có những bức tường được trang trí bằng các bức tranh tôn giáo như bức Chúa Kitô, bức Đức mẹ đồng trinh, bức Các thánh thần, ông đã nhả ra một đám khói tràn ngập căn phòng. Đáp lại lời xin lỗi kèm câu hỏi của ông, kể ra cũng khá hóm hỉnh, rằng liệu khói thuốc có làm phiền các nhân vật tôn nghiêm này, Liszt bảo: “Không, dù sao đây cũng là một loại hương trầm!”

Tôi còn được phép, trong sáu tháng với điều kiện làm việc tương tự, thế chỗ một người bạn trong dàn nhạc Nhà hát Ý tại Khán phòng Ventadour (ngày nay là Ngân hàng Pháp).

Nếu trước đây đã được nghe bà Miolan-Carvalho tuyệt diệu hát trong Faust thì giai đoạn này tôi biết đến các ca sĩ bi kịch như Penco và Frezzolini, các ca sĩ như Mario, Graziani, Delle Sedie và một chú hề như Zucchini!

Ngày nay khi Zucchini không còn nữa, tôi thấy Lucien Fugère vĩ đại của chúng ta, của Nhà hát Opéra-Comique giống ông y hệt: cùng trình độ kỹ năng thanh nhạc, cùng nghệ thuật hài kịch hoàn hảo.

Nhưng thời điểm diễn ra cuộc thi của Học viện đang đến gần. Trong thời gian ở trong lô làm bài thi tại Học viện, chúng tôi phải trả chi phí ăn uống trong 25 ngày và tiền thuê một cây piano. Tôi đã gắng hết sức giải quyết khó khăn này. Vả chăng tôi đã chuẩn bị sẵn. Tuy vậy số tiền tôi có thể để dành cũng không thể đủ, và theo lời khuyên của người ta (khuyên suông thì mất gì đâu), tôi tới phố Blancs-Manteaux, vào cửa hiệu Mont-de-Piété để cầm chiếc đồng hồ quả quýt bằng… vàng của mình. Nó đã tô điểm cho túi áo của tôi kể từ buổi sáng tôi được rước lễ lần đầu. Than ôi! Nó hẳn phải rất nhẹ bởi họ chỉ trả cho tôi… 16 franc!!! Tuy nhiên, khoản phụ thêm này đã giúp ích cho tôi và tôi đã có thể trả số tiền mà ông chủ quán ăn đòi hỏi.

Về đàn piano thì giá thuê là 20 franc, đắt đến nỗi tôi không thể cáng đáng. Tôi soạn nhạc mà không dùng đàn thì dễ dàng hơn nhiều đến mức tôi chưa bao giờ dùng công cụ trợ giúp này để sáng tác.

Tôi đâu ngờ rằng các thí sinh ở lô bên cạnh lại làm phiền mình đến thế khi họ gõ piano và hát to hết mức! Tôi không thể thư giãn lẫn tránh né tiếng ồn ào từ họ bởi tôi không có đàn piano, vả lại hành lang trên tầng gác mái nơi chúng tôi ở bị dội âm một cách bất thường.

Khi tới buổi họp của Viện hàn lâm Mỹ thuật vào các thứ Bảy, tôi thường ngước nhìn bằng ánh mắt đau xót ô cửa sổ lưới của cái lô mình từng ở, có thể trông thấy từ sân Mazarine, về bên phải trong một hốc tường. Phải, ánh mắt của tôi thật đau xót bởi tôi đã để lại phía sau ô cửa cũ kỹ này những kỷ niệm thân thương nhất và cảm động nhất của tuổi trẻ, và chúng khiến tôi suy ngẫm về những khoảnh khắc đau xót của cuộc đời vốn đã quá dài của mình…

Vậy nên vào năm 1863, là người thi đầu tiên trong cuộc thi thử – hợp xướng và fugue – tôi giữ nguyên số thứ tự này trong buổi biểu diễn các cantate. Thử thách đầu tiên diễn ra tại hội trường lớn của Trường Mỹ thuật. Lối vào đó đi qua Kè Malaquais.

Phán quyết cuối cùng được đưa ra vào ngày hôm sau trong phòng họp thường lệ của Viện hàn lâm Mỹ thuật.

Các nghệ sĩ thể hiện tác phẩm của tôi là bà Van den Heuvel-Duprez, Roger và Bonnehée, cả ba đều đến từ Nhà hát Opéra. Các nghệ sĩ như vậy đã giúp tôi chiến thắng. Sự việc diễn biến như sau.

Phần thi của tôi hoàn thành đầu tiên – chúng tôi gồm sáu thí sinh – và vì thời đó người ta không được phép nghe tác phẩm của thí sinh khác, tôi lang thang ngẫu hứng ở phố Mazarine… trên cầu Nghệ thuật… và cuối cùng là trong sân vuông của Louvre. Tôi ngồi trên một trong những chiếc ghế sắt bày ở đó.

Tôi nghe chuông đồng hồ điểm năm giờ. Tôi hết sức lo lắng. “Chắc giờ này mọi sự xong xuôi rồi!”, tôi tự nhủ… Tôi đã đoán đúng, vì đột nhiên tôi nhìn thấy dưới mái vòm một nhóm ba người đang trò chuyện cùng nhau và trong số đó tôi nhận ra Berlioz, Ambroise Thomas và thầy Auber. Việc chạy trốn là không thể. Họ đã ở trước mặt và gần như chặn đường tôi.

Thầy Ambroise Thomas yêu quý của tôi tiến tới và bảo: “Ôm hôn Berlioz đi nào, cậu chịu ơn ông ấy rất nhiều về giải thưởng của mình!” “Giải thưởng!”, tôi bối rối kêu lên và gương mặt tràn ngập niềm vui, “Tôi đoạt giải rồi!!!…” Tôi ôm hôn Berlioz với một thứ cảm xúc khó tả, rồi đến thầy dạy tôi, và cuối cùng là thầy Auber…

Thầy Auber an ủi tôi. Tôi cần được an ủi chăng? Rồi thầy vừa chỉ vào tôi vừa nói với Berlioz:

“Chàng trai này sẽ tiến xa khi bớt bươn trải hơn!”

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch