Les Préludes (Những khúc dạo đầu)

112
Nổi tiếng nhất trong các thơ giao hưởng của Liszt là bản thơ giao hưởng số 3 với tên Les Préludes (Những khúc dạo đầu). Mặc dầu tên tác phẩm là “Những khúc dạo đầu” nhưng tự nó là một tác phẩm trọn vẹn và độc lập. Khá lâu trước khi nó có được hình thức cuối cùng, Liszt đã mường tượng tác phẩm trong một bối cảnh khác. Vào khoảng năm 1844-1845, ông sáng tác một liên khúc cho hợp xướng nam và piano có tên Les Quatre Eléments (Bốn yếu tố) dựa theo các bài thơ của Joseph Autran. Liszt dự định dùng một overture để giới thiệu chùm bốn hợp xướng miêu tả trái đất, những cơn gió bắc, những con sóng và những vì sao (ngụ ý bốn yếu tố chính theo quan niệm của người Hy Lạp cổ là đất; gió; nước và lửa). Trong những năm tiếp theo, Liszt đã gác lại các hợp xướng trong khi vẫn tiếp tục sửa chữa chương nhạc giới thiệu. Khi chương nhạc này trở nên độc lập với mục đích ban đầu, Liszt không nhắc đến nó như một overture nữa và đến năm 1854 nó đã trở thành một tác phẩm chính thức ở thể loại của riêng nó – thể loại thơ giao hưởng.
Thơ giao hưởng số 3 được lấy tên theo tiêu đề bài thơ Les Préludes (Những khúc dạo đầu) trong tập Méditations Poétiques(Những khúc trầm mặc nên thơ) của nhà thơ Pháp Alphonse de Lamartine, người mà trong số các môn đệ trung thành có Joseph Autran. Les Préludes của Lamartine là một khúc tụng ca dài miêu tả cuộc sống của một con người từ tình yêu thời tuổi trẻ qua những thực tế khắc nghiệt của sự nghiệp và chiến tranh rồi cuối cùng tới toại nguyện. Vậy là Liszt đã viết xong thơ giao hưởng Les Préludes rồi mới liên hệ nó với bài thơ có vẻ thích hợp nhất trong tập thơ của Lamartine mà ông rất yêu thích. Nhà soạn nhạc thấy bài thơ ấy đáp ứng được tinh thần của bản thơ giao hưởng, tuy vậy ông đã kiến giải tư tưởng của Lamartine theo cách của mình. Trong xuất bản phẩm đã sửa chữa, Liszt viết: “Cuộc sống của chúng ta là gì nếu không phải là một chuỗi những khúc dạo đầu cho bài ca bí ẩn mà trong đó những nốt nhạc trang nghiêm đầu tiên do Sự Chết ngâm lên? Tình yêu là buổi bình minh mê đắm của mọi cuộc đời; song có ai đủ may mắn để những hân hoan hạnh phúc ban đầu không bị cơn bão tố nào đó làm cho gián đoạn, luồng gió chết chóc của nó làm tiêu tan ảo tưởng của tình yêu, tiếng sét tai ác của nó thiêu hủy bệ thờ của tình ái, và ở đâu tâm hồn bị một trong các cơn bão làm tổn thương dữ dội lại không tìm cách vịn vào ký ức về sự thanh thản êm đềm của cuộc sống nơi đồng quê của mình? Song con người không cam chịu hưởng thụ lâu dài hơi ấm từ tâm là cái đầu tiên đã quyến rũ mình trong sự chở che đùm bọc của Thiên Nhiên, và khi “Kèn trômpet vang lên báo động”, anh ta xông tới vị trí hiểm nguy dù cho chiến tranh có thể là cái kêu gọi anh vào hàng ngũ của nó, để tìm ra trong cuộc chiến đấu lương tâm trọn vẹn của bản thân và toàn bộ sức mạnh tiềm tàng của mình.”
Dù không được lấy cảm hứng một cách cụ thể từ lời thơ của Lamartine nhưng âm nhạc của Les Préludes ở phiên bản sau cùng lại phản ánh một cách trung thành các cảnh huống tâm trạng thay đổi của mỗi đoạn trong bài thơ tuy có đảo lộn trình tự hai đoạn cuối (1- Bình minh của cuộc đời; Tình yêu; 2- Cơn bão cuộc đời; 3- Trú ẩn và an ủi trong cuộc sống thôn dã; 4- Chiến đấu và chinh phục). Ngôn ngữ âm nhạc thể hiện những chủ đề tương đương với chủ đề được Lamartine thể hiện bằng lời thơ mà không cần phải đưa ra một diễn dịch trực tiếp các yếu tố của chủ đề. Motive ba nốt riêng rẽ tạo ra chất keo dính trọng yếu, các hoán vị và biến đổi đa dạng của nó phản ánh nhiều tâm trạng khác nhau của mỗi đoạn. Một chủ đề khác, một người anh em họ xa của motive gốc, cuối cùng hòa nhập vào, tạo yếu tố tương phản khi nó cũng trải qua biến đổi. Tác phẩm kết thúc bằng sự trở lại với motive ba nốt ở hình thức gốc. Les Préludes là hình mẫu đẹp nhất cho kiểu thơ giao hưởng bắt nguồn từ overture hòa nhạc và lấy cấu trúc từ sự kết hợp giữa hình thức sonata và tương phản bốn đoạn trong cùng một chương nhạc.
Ngọc Anh (nhaccodien.info)