LỜI NÓI ĐẦU

 

Tôi thường được hỏi liệu tôi có tập hợp những kỷ niệm đời mình từ những ghi chép hàng ngày hay không? Thế thì có đấy. Đúng vậy.

Dưới đây là lý do tôi biến việc này thành thói quen đều đặn.

Mẹ tôi – một phụ nữ mẫu mực, một bà mẹ mẫu mực và người răn dạy đạo đức cho tôi – đã nói vào hôm sinh nhật lần thứ mười của tôi: “Đây là một cuốn nhật ký (nó thuộc loại sổ nhật ký dạng dài khi ấy có bán tại cửa hàng Bon Marché nhỏ, sau này trở thành cửa hàng bách hóa khổng lồ như ta đã biết). Và mỗi tối trước khi đi ngủ, bà nói thêm, con sẽ ghi lên các trang của cuốn sổ tay này những gì con đã làm, đã nói hoặc đã thấy trong ngày. Nếu đã thực hiện một hành động hay đã nói một lời khiến con có thể tự trách mình, con sẽ phải viết lời thú tội lên các trang này. Có lẽ việc này sẽ khiến con do dự trước khi thực hiện một hành động đáng chê trách trong ngày.”

Đây chẳng phải là suy nghĩ của một phụ nữ cao thượng với trí tuệ cũng như tâm hồn ngay thẳng và chính trực hay sao? Bằng cách đặt lương tâm làm bổn phận hàng đầu của con, bà đã biến lương tâm thành nền tảng cho phương pháp giáo dục của mình.

Một hôm khi đang chơi một mình và tiêu khiển bằng cách lục lọi tủ đồ, tôi phát hiện ra ở đó có những thanh sô cô la. Tôi bóc một thanh rồi nhai rau ráu.

Tôi đã nói ở đâu đó rằng mình… tham ăn. Tôi không chối. Đây là một bằng chứng nữa.

Đến tối khi phải viết báo cáo tổng kết ngày, tôi thừa nhận rằng mình đã lưỡng lự một lúc trước khi nhắc đến thanh sô cô la ngon lành ấy. Lương tâm của tôi dù bị thử thách nhưng đã thắng thế và tôi can đảm ghi lại tội lỗi vào nhật ký.

Tôi hơi ngượng khi nghĩ tới việc mẹ sẽ đọc về tội lỗi của mình. Đúng lúc đó mẹ bước vào và nom thấy tôi đang thẹn, nhưng ngay khi biết nguyên do, mẹ hôn tôi rồi bảo: “Con đã hành động như một người chính trực, mẹ tha lỗi cho con, nhưng đó không phải là lý do để lại ăn vụng sô cô la nữa nhé!”

Từ đó mỗi lần nhai sô cô la tôi đều thấy ngon hơn vì luôn được phép.

Chính theo cách này mà những kỷ niệm của tôi, dù tốt hay xấu, dù vui hay buồn, dù hạnh phúc hay không, luôn được tôi đều đặn ghi lại và lưu giữ để luôn nhớ đến.

CHƯƠNG I – ĐƯỢC NHẬN VÀO NHẠC VIỆN

Nếu sống đến một ngàn tuổi – điều khó có thể xảy ra – tôi cũng không thể quên được cái ngày định mệnh 24 tháng 2 năm 1848 (tôi sắp lên sáu tuổi). Chẳng phải vì nó trùng hợp với ngày sụp đổ của Nền quân chủ tháng Bảy nhiều lắm mà chỉ vì nó đánh dấu những bước đi đầu tiên của tôi trong sự nghiệp âm nhạc, một sự nghiệp mà tôi vẫn không chắc là thiên mệnh của mình, bởi tình yêu tôi dành cho khoa học chính xác vẫn lớn đến thế!…

Khi ấy tôi sống cùng cha mẹ ở phố Beaune, trong một căn hộ trông ra những khu vườn lớn. Ngày hứa hẹn sẽ rất đẹp; mà trên hết là trời đặc biệt lạnh.

Đến giờ ăn trưa thì chị hầu gái trong bộ dạng như bị quỷ ám lao vào căn phòng nơi chúng tôi đang tụ tập. Hãy cầm lấy vũ khí hỡi các công dân!, chị vừa thét lên vừa ném – thay vì xếp – bát đĩa lên bàn!…

Tôi còn quá nhỏ để có thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra ngoài phố. Tôi chỉ nhớ là những người nổi dậy tràn ra và Cách mạng diễn ra, đập tan ngai vàng của vị vua nhu nhược nhất.

Những cảm xúc khuấy động cha tôi hoàn toàn khác với những cảm xúc khiến mẹ tôi bồn chồn trong dạ. Cha tôi từng là sĩ quan cấp cao dưới thời Napoléon I, bạn của Nguyên soái Soult và Công tước xứ Dalmatia. Ông hết lòng ủng hộ hoàng đế và bầu không khí kích động của chiến trận phù hợp với tính khí của ông. Về phần mẹ tôi, những trải nghiệm buồn rầu từ cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên, cuộc cách mạng đã tước bỏ ngai vàng của Louis XVI và Marie-Antoinette, đã khiến lòng sùng bái nhà Bourbon rung động trong bà.

Ký ức về bữa ăn náo động này vẫn in đậm trong tâm trí tôi vì chính vào buổi sáng của cái ngày lịch sử ấy, dưới ánh sáng lờ mờ của những cây nến mỡ (nến sáp chỉ dành cho những gia đình giàu có), lần đầu tiên mẹ đặt những ngón tay tôi lên phím đàn piano.

Để khai tâm cho tôi những kiến thức về nhạc cụ này một cách tốt nhất, mẹ tôi, người dạy nhạc cho tôi, đã căng dọc theo phím đàn một dải giấy mà trên đó bà viết tên các nốt nhạc tương ứng với từng phím trắng và phím đen, cùng vị trí của chúng trên năm dòng kẻ. Khéo léo đến mức không thể nào nhầm lẫn được.

Tôi học piano tiến bộ đến mức ba năm sau, vào tháng 10 năm 1851, cha mẹ nghĩ rằng cần phải đăng ký cho tôi dự thi vào học piano tại Nhạc viện.

Một buổi sáng cùng tháng đó, chúng tôi tới phố Faubourg-Poissonnière. Đây chính là nơi có Nhạc viện Quốc gia – nó ở đó rất lâu trước khi chuyển đến phố Madrid. Căn phòng lớn mà chúng tôi bước vào, giống như mọi căn phòng của Nhạc viện thời đó, có những bức tường sơn màu xám xanh lốm đốm những chấm đen. Những chiếc ghế dài cũ kỹ là thứ đồ đạc duy nhất trong phòng chờ này.

Ông Ferrière, một nhân viên kỳ cựu với vẻ ngoài thô ráp và nghiêm nghị, điểm danh thí sinh bằng cách đọc to tên họ giữa đám cha mẹ và bạn bè xúc động đi kèm. Gần giống như triệu tập những kẻ bị kết án. Ông đưa cho mỗi trò số thứ tự để họ lần lượt trình diện trước ban giám khảo – những vị đã tập trung trong phòng thi.

Khán phòng dùng để thi này được bài trí như một nhà hát loại nhỏ, với một dãy lô và khán đài vòng quanh. Nó được thiết kế theo phong cách Tổng tài. Thú thật là tôi chưa bao giờ bước vào đó mà không cảm thấy xúc động. Tôi luôn tưởng tượng rằng mình trông thấy, ngồi trong cái lô đối diện ở tầng một, như trong một hố đen, Tổng tài thứ nhất Bonaparte và cô bạn gái ngọt ngào Joséphine trong những năm tuổi trẻ. Chàng với gương mặt điển trai cương nghị còn nàng với cái nhìn dịu dàng, nhân hậu, tươi cười động viên các học trò đang lần đầu thử sức khi đến lượt mình. Bằng cách đến thăm thánh đường dành cho nghệ thuật này và dẫn theo người đàn ông đang bận tâm đến những vấn đề nghiêm trọng khác, Joséphine cao quý và tốt bụng dường như muốn làm dịu đi những suy nghĩ của chàng, khiến chúng bớt gay gắt hơn khi được tiếp xúc với vẻ trẻ trung mà một ngày nào đó sẽ không thoát khỏi sự khủng khiếp của chiến tranh.

Chính trong khán phòng nhỏ này – đừng nhầm với khán phòng nổi tiếng có tên Khán phòng Hiệp hội hòa nhạc nhạc viện [Salle de la Société des Concerts du Conservatoire] – mà từ đời giám đốc đầu tiên, Sarette, cho đến gần đây đã diễn ra các cuộc thi vào tất cả các lớp thuộc nhạc viện, gồm cả lớp bi kịch và lớp hài kịch. Chúng tôi cũng học orgue tại đó vài lần mỗi tuần, bởi ở phía trong cùng có một cây orgue lớn hai tầng phím được giấu sau tấm màn lớn. Bên cạnh cây đàn cổ lỗ cũ kỹ có âm thanh the thé này là cánh cửa chết người mà qua đó học trò bước lên chiếc bục tạo thành một sân khấu nhỏ. Cũng chính tại khán phòng này, trong nhiều năm, đã diễn ra phiên họp trù bị để xét tặng các giải thưởng sáng tác âm nhạc được gọi là Giải thưởng Rome.

Nhưng hãy trở lại với buổi sáng ngày 9 tháng 10 năm 1851. Khi mọi đứa trẻ đã được thông báo về thứ tự để theo đó thực hiện bài kiểm tra, chúng tôi đi sang gian bên cạnh, chỗ dẫn tới cái mà tôi gọi là cánh cửa chết người và chỉ là một kiểu gác mái bụi bặm và xập xệ.

Hội đồng phán quyết mà chúng tôi sắp sửa phải đối mặt bao gồm Halévy, Carafa, Ambroise Thomas, một số giáo sư trong trường và Hiệu trưởng, Giám đốc Nhạc viện, Thầy Auber, bởi vì chúng tôi hiếm khi gọi cộc lốc là Auber khi nhắc đến bậc thầy người Pháp, người nổi tiếng nhất và sáng tác sung mãn nhất trong số những người khi ấy đã tạo nên danh tiếng cho opéra và opéra-comique.

Thầy Auber khi ấy đã sáu mươi lăm tuổi. Thầy được bao quanh bởi sự tôn kính của mọi người và ai ở Nhạc viện cũng yêu mến thầy. Tôi luôn nhớ đôi mắt đen tuyệt diệu, ánh lên ngọn lửa nhiệt tình vô song và vẫn giữ nguyên như vậy đến tận khi thầy qua đời vào tháng 5 năm 1871.

Vào tháng 5 năm 1871!… Khi ấy chúng tôi đang ở giữa một cuộc nổi dậy, gần như trong cơn biến động cuối cùng của Công xã… và thầy Auber, dù sao cũng vẫn trung thành với đại lộ yêu thích, gần đường qua Nhà hát Opéra – lối đi dạo ưa thích của thầy – bắt gặp một người bạn, người cũng đang tuyệt vọng vì những ngày khủng khiếp mà chúng tôi đang trải qua, nói với ông này với vẻ mệt mỏi khó tả: “À! Tôi đã sống quá lâu rồi!” Rồi thầy nói thêm với nụ cười mỉm: “Không bao giờ được lạm dụng bất cứ thứ gì.”

Vào năm 1851 – thời điểm tôi biết thầy Auber – giám đốc của chúng tôi đã sống một thời gian dài trong tòa nhà cũ của thầy trên phố Saint-Georges, nơi tôi nhớ là được đón tiếp từ bảy giờ sáng – giờ thầy đã hoàn tất công việc của mình và cũng là giờ thầy đón tiếp mọi cuộc thăm viếng một cách rất thân tình.

Rồi thầy đến Nhạc viện trên cỗ xe hai chỗ mui trần mà thầy thường tự đánh ngựa. Thầy nổi danh thiên hạ. Nhìn thầy là người ta nhớ ngay đến Cô gái câm ở Portici, vở opéra có may mắn đặc biệt và là thành công vang dội nhất trước khi vở Robert Ác quỷ ra mắt tại Nhà hát Opéra. Nói đến Cô gái câm ở Portici dĩ nhiên là người ta nhớ ngay đến ấn tượng kỳ diệu mà khúc song ca ở màn hai, “Tình yêu tổ quốc thiêng liêng”, đã gây ra tại Nhà hát Monnaie ở Brussels đối với những người yêu nước tham dự buổi biểu diễn. Thực tế là khúc ca đó đã phát tín hiệu cho cuộc cách mạng nổ ra ở Bỉ năm 1830 và mang lại độc lập cho các nước láng giềng phía Bắc của chúng ta. Cả khán phòng trong cơn cuồng nhiệt đã cùng các nghệ sĩ hát đi hát lại điệp khúc hào hùng mà không biết mệt.

Bậc thầy nào có thể tự hào về một thành công như vậy trong sự nghiệp của mình?…

Khi tên tôi được xướng lên, tôi run rẩy xuất hiện trên bục sân khấu. Lúc đó tôi mới chín tuổi và phải biểu diễn chương cuối bản Sonata số 29 [Hammerklavier] của Beethoven. Thật là tham vọng!!!…

Như thường lệ họ bảo tôi ngừng lại sau khi tôi đã chơi được hai hay ba trang nhạc, và tôi hết sức sửng sốt khi nghe giọng thầy Auber cất lên gọi mình trước hội đồng giám khảo.

Để đi xuống từ bục sân khẩu phải mất bốn hay năm bước. Như thể bị choáng, thoạt đầu tôi không chú ý và suýt nữa đã ngã lộn cổ nếu thầy Auber không ân cần bảo tôi: “Cẩn thận kẻo ngã nhé con” – rồi ngay lập tức thầy hỏi tôi đã học ở đâu mà chơi tốt thế. Sau khi trả lời, không phải không có chút tự hào, rằng người thầy duy nhất của tôi là mẹ tôi, tôi hốt hoảng gần như chạy ra ngoài và rất sung sướng… THẦY đã nói chuyện với tôi!…

Sáng hôm sau mẹ tôi nhận được thư báo chính thức. Tôi đã trở thành học trò Nhạc viện!…

Thời ấy ở ngôi trường lớn này có hai giáo sư piano. Các lớp dự bị vẫn chưa tồn tại. Hai giáo sư này này là thầy Marmontel và thầy Laurent. Tôi được chỉ định vào lớp của thầy Laurent. Tôi học ở đó hai năm, đồng thời tiếp tục theo học cổ điển ở trường đại học và tham gia các khóa học xướng âm của thầy Savard xuất sắc.

Thầy Laurent của tôi từng đoạt giải nhất piano dưới thời Louis XVIII; thầy đã trở thành sĩ quan kỵ binh nhưng rồi xuất ngũ để trở thành giáo sư tại Nhạc viện Hoàng gia. Có thể nói rằng thầy là hiện thân của lòng tốt khi thực thi phẩm chất lý tưởng này theo nghĩa trọn vẹn nhất. Thầy Laurent đã đặt hết niềm tin vào tôi.

Thầy Savard là cha của một trong những học trò cũ của tôi, người đoạt giải thưởng lớn Rome và hiện là Giám đốc Nhạc viện Lyon (giám đốc nhạc viện! biết bao học trò cũ của tôi đã và đang là giám đốc các nhạc viện!). Còn Savard cha là học giả uyên bác nhất.

Trái tim thầy cũng rộng mở như kiến thức thầy có. Thật vui khi nhớ lại chuyện lúc tôi muốn học đối âm trước khi vào lớp fugue và sáng tác của thầy Ambroise Thomas, thầy Savard đã rất tốt bụng mà cho phép tôi tới học tại nhà thầy. Tối nào tôi cũng đi từ Montmartre, nơi tôi sống, xuống số 13 phố Vieille-Estrapade, phía sau Điện Panthéon.

Tôi đã nhận được từ con người vừa tốt bụng vừa thông thái này những bài học thật tuyệt vời! Bởi vậy tôi đã can đảm biết bao khi đi bộ một quãng đường dài tới tận nơi thầy ở và từ đó trở về nhà mình mỗi tối vào khoảng mười giờ với đầy những lời khuyên nhủ uyên bác và đáng khâm phục mà thầy đã đưa ra.

Tôi đã đi bộ trên đường như đã nói. Tôi thậm chí còn không lấy vé tầng trên xe buýt chỉ để tiết kiệm từng xu một khi nghĩ đến khoản học phí sẽ phải trả. Tôi đã phải theo phương pháp này; cái bóng vĩ đại của Descartes sẽ chúc mừng tôi!

Nhưng hãy xem sự tế nhị của con người có trái tim nhân hậu này. Khi đến ngày tôi phải trả số tiền còn nợ, thầy Savard thông báo rằng thầy có một công việc muốn giao cho tôi, đó là chuyển soạn phần đệm quân nhạc bản messe của Adolphe Adam sang cho dàn nhạc giao hưởng – và thầy nói thêm rằng công việc này sẽ mang lại cho tôi ba trăm franc!…

Ai mà đoán ra chứ? Còn tôi, chỉ sau này tôi mới biết rằng thầy Savard đã nghĩ ra cách này để không thu tiền của tôi khi khiến tôi tin rằng ba trăm franc tương đương với mức học phí này, nói theo ngôn ngữ thời thượng, đã bù đắp cho thầy.

Thầy qua đời đã nhiều năm rồi nhưng trái tim tôi vẫn thầm nói “cảm ơn” với người thầy có tâm hồn đẹp đáng ngưỡng mộ này!

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch