CHƯƠNG XIV – MỘT BUỔI RA MẮT Ở BRUXELLES

 

Những hành trình ở Ý, những chuyến đi liên miên mà tôi đam mê theo đuổi, nếu chẳng phải là để chuẩn bị cho các buổi trình diễn Vua Lahore lần lượt tại Milan, Piacenza, Venice, Pisa, và tại Trieste ở bên kia Biển Adriatique, thì cũng chẳng ngăn cản tôi soạn tiếp tổng phổ Hérodiade; và tác phẩm đã sớm được hoàn thành trọn vẹn.

Các con thân yêu ơi, các con hẳn phải ngạc nhiên phần nào trước sự lang bạt này, nhất là vì nó quá trái ngược với sở thích của cha. Tuy nhiên, nhiều học trò của cha đã noi gương cha về điểm này và lý do rất dễ hiểu. Khi khởi đầu sự nghiệp như sự nghiệp của bọn ta, cần phải đưa ra chỉ dẫn cho nhạc trưởng, đạo diễn, nghệ sĩ, người thiết kế trang phục; lý do là vì một tổng phổ thường cần được giải thích; và các tốc độ, theo máy đếm nhịp, khác xa so với thực tế!

Từ lâu tôi đã để những thứ như thế tự thân vận động. Đúng là người ta đã quen thuộc tôi nhiều năm đến nỗi sẽ rất khó đưa ra lựa chọn và quyết định xem tôi nên đi đâu. Cũng vậy là việc bắt đầu từ đâu – đó sẽ là ước muốn tha thiết nhất của tôi – để đích thân bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với tất cả các giám đốc và tất cả các nghệ sĩ hiện đã quen thuộc với tác phẩm sân khấu của tôi. Họ đoán trước được những chỉ dẫn mà tôi có thể đưa ra và những chệnh choạc trong cách thể hiện vai diễn của họ trở nên rất hiếm hoi, hiếm hơn nhiều so với thuở ban đầu khi các giám đốc và các nghệ sĩ không biết tới và không đoán được những ý đồ của tôi; tóm lại là khi mà các tác phẩm của tôi là của một người vô danh với họ.

Tôi phải nhắc tới, và tôi làm vậy với cảm xúc chân thành, tất cả những gì tôi nợ các giám đốc thân yêu tại các nhà hát lớn hàng tỉnh này, vì sự tận tâm trìu mến họ dành cho tôi: Gravière, Saugey, Villefranck, Rachet, và còn bao nhiêu người khác nữa, những người có quyền nhận được từ tôi lời cảm ơn và chúc mừng chân thành nhất.

Suốt mùa hè năm 1879, tôi ở bên bờ biển, tại Pourville, gần Dieppe. Nhà xuất bản Hartmann và cộng sự Paul Milliet đến chơi với tôi vào các Chủ nhật. Khi dùng từ “với tôi” là tôi đã quá lời và tôi xin lỗi, vì tôi hầu như không dành thời gian gần gụi với những người bạn tuyệt vời này. Tôi đã quen làm việc từ mười lăm đến mười sáu tiếng mỗi ngày; tôi dành sáu tiếng để ngủ; việc ăn uống và vệ sinh chiếm phần thời gian còn lại. Phải công nhận rằng chỉ bằng cách lao động miệt mài không mệt mỏi trong nhiều năm thì người ta mới có thể cho ra đời các tác phẩm quy mô lớn.

Alexandre Dumas con, người từ một năm nay có tôi làm đồng nghiệp khiêm tốn tại Học viện, sống trong một cơ ngơi nguy nga ở Puys, gần Dieppe. Mối quan hệ láng giềng này thường mang lại cho tôi rất nhiều điều ngọt ngào vừa ý. Tôi chưa bao giờ hạnh phúc đến thế khi ông đến đón tôi bằng xe ngựa lúc bảy giờ tối để đến nhà ông dùng bữa. Ông sẽ đưa tôi về lúc chín giờ để không làm mất thời gian của tôi. Đó là một sự nghỉ ngơi thân thiện mà ông muốn dành cho tôi, một sự nghỉ ngơi vừa tinh tế vừa bổ ích, vì người ta có thể đoán được cuộc trò chuyện sôi nổi và hấp dẫn với viện sĩ danh tiếng có giá trị với tôi đến chừng nào.

Hồi ấy tôi đã ghen tị với ông biết bao vì những niềm vui nghệ thuật mà ông nếm trải và sau này tôi cũng được biết đến! Ông đón tiếp và giữ các diễn viên xuất chúng ở nhà mình rồi để họ tập vai. Thời điểm đó, cô diễn viên xuất sắc Pasca đang là khách ở nhà ông.

Đầu năm 1881, tổng phổ Hérodiade được hoàn thành. Hartmann và Paul Milliet khuyên tôi nên thông báo cho ban giám đốc Nhà hát Opéra. Ba năm dành cho Hérodiade với tôi là một niềm vui triền miên. Đấu ấn của chúng là một sự toàn tâm toàn ý ngoài mong đợi và không thể nào quên.

Dẫu luôn cảm thấy chán ghét khi khi gõ cửa nhà hát, tôi vẫn phải quyết định thuyết trình về tác phẩm này và đi đến Nhà hát Opéra, gặp ông Vaucorbeil, khi ấy là giám đốc Viện hàn lâm Âm nhạc Quốc gia. Dưới đây là cuộc trò chuyện mà tôi có vinh dự được thực hiện cùng ông.

– Ông giám đốc thân mến ơi, vì Nhà hát Opéra trong chừng mực nào đấy từng là nhà của tôi cùng với Vua Lahore, liệu ông có cho phép tôi trình bày về một tác phẩm mới là Hérodiade chăng?
– Ai viết libertto cho anh thế?
– Paul Milliet, một người rất tài năng mà tôi vô cùng yêu mến.
– Tôi cũng yêu mến ông ấy vô cùng: nhưng… cùng với ông ấy anh sẽ cần… (tìm từ)… một người dựng khung [carcassier].
– Một người dựng khung!…, tôi vừa đáp vừa nhảy dựng lên vì sửng sốt; một người dựng khung! Nhưng đó là cái quái gì vậy?…
– Một người dựng khung, vị giám đốc lỗi lạc nói thêm với vẻ trịnh trọng, một người dựng khung là người biết cách thiết lập, một cách vững chắc, cái sườn của một tác phẩm và tôi xin nói thêm rằng bản thân anh chưa đủ trình làm một người dựng khung theo đúng nghĩa; hãy mang cho tôi một tác phẩm khác và Nhà hát Opéra Quốc gia sẽ mở cửa chào đón anh.

…Tôi đã hiểu: Nhà hát Opéra đã khép cửa với tôi; và vài ngày sau buổi đề đạt đau đớn này, tôi được biết rằng bấy lâu nay đồ bày phông cảnh của Vua Lahore đã được cất kỹ trong nhà kho ở phố Richer – điều đồng nghĩa với việc cuối cùng sẽ bị bỏ mặc.

Một ngày cùng mùa hè đó, tôi đang dạo bước trên Đại lộ Capucines, không xa phố Daunou; nhà xuất bản Georges Hartmann của tôi sống trong một căn hộ tầng trệt phía cuối sân ở số 20 phố này. Suy nghĩ của tôi u ám khủng khiếp… Với khuôn mặt lo lắng và trái tim chán nản, tôi vừa đi vừa lấy làm chua xót khi nhớ tới những lời hứa đáng thất vọng mà các giám đốc đã ban cho tôi như ban nước thánh… Đột nhiên có người cất tiếng chào và chặn tôi lại, tôi nhận ra đó là ông Calabrési, giám đốc Nhà hát Hoàng gia Monnaie ở Bruxelles.

Tôi đứng sững lại. Liệu tôi có phải đưa ông ta vào bộ sưu tập những vị giám đốc đã trưng ra với mình gương mặt sắt?

– Tôi biết (ông Calabrési nói khi đến gần tôi) rằng anh có một tác phẩm tuyệt vời là Hérodiade. Nếu anh trao cho tôi, tôi sẽ cho dàn dựng ngay tại Nhà hát Monnaie.
– Nhưng ông đã biết nó đâu?, tôi nói.
– Tôi không dám đề nghị anh cho nghe thử.
– Chà!, tôi đáp lại ngay, chính tôi sẽ bắt ông phải nghe thử.
– Nhưng… sáng mai tôi lên đường về Bruxelles rồi.
– Thế thì tối nay nhé!, tôi đáp ngay. Tôi sẽ đợi ông lúc 8 giờ ở cửa hiệu của Hartmann. Giờ đó nó đóng cửa… sẽ chỉ có chúng ta ở đó.

Tôi hớn hở chạy đến nhà xuất bản của mình và vừa cười vừa khóc kể cho anh nghe chuyện vừa xảy ra với mình!

Một cây piano ngay lập tức được mang đến nhà Hartmann, trong khi Paul Milliet được thông báo gấp.

Alphonse de Rothschild, đồng nghiệp của tôi tại Viện hàn lâm Mỹ thuật, khi biết tôi phải đến Bruxelles rất thường xuyên để dự các buổi diễn tập Hérodiade sắp mở màn tại Nhà hát Hoàng gia Monnaie, và muốn tránh cho tôi phải chờ đợi ở nhà ga, đã đưa cho tôi một giấy phép nhập cảnh.

Người ta đã quá quen với việc thấy tôi băng qua biên giới Feignies và Quévy đến nỗi tôi đã trở thành một người bạn thực sự của các nhân viên hải quan, nhất là những người ở biên giới Bỉ. Tôi nhớ là để cảm ơn sự quan tâm ân cần của họ, tôi thậm chí còn gửi cho họ vé Nhà hát Monnaie!

Vào tháng 10 cùng năm 1881, một buổi lễ thực sự đã diễn ra tại Nhà hát Hoàng gia. Quả thực đây là tác phẩm Pháp đầu tiên được dàn dựng trên sân khấu tuyệt vời này ở thủ đô Bỉ.

Vào ngày đã định, hai vị giám đốc xuất sắc của tôi, các ông Stoumon và Calabrési, tháp tùng tôi đến tận phòng hóa trang lớn. Đó là một căn phòng rộng với trần mạ vàng và được chiếu sáng từ hàng cột nhà hát trên Quảng trường Monnaie. Tọa lạc ở phía bên kia quảng trường này (tàn tích của Bruxelles cổ) là Sở Đúc tiền và, ở một góc, là Sở giao dịch Chứng khoán. Những tòa nhà này đã biến mất và được thay thế bằng Tòa Bưu chính tráng lệ. Còn Sở giao dịch Chứng khoán được chuyển đến tòa nhà hoành tráng được xây dựng cách đó không xa.

Ở giữa phòng hóa trang, nơi tôi được giới thiệu, là một cây piano lớn, xung quanh là khoảng hai chục chiếc ghế bành và ghế tựa được xếp thành hình bán nguyệt. Ngoài các đạo diễn còn có nhà xuất bản và cộng sự của tôi, cũng như các nghệ sĩ được chúng tôi tuyển lựa để phân vai. Đứng đầu các nghệ sĩ này là Marthe Duvivier, người có tài năng, danh tiếng và sắc đẹp khiến cô được chọn vào vai Salomé; cô Blanche Deschamps, người sau này trở thành vợ của nhạc trưởng nổi tiếng Léon Jehin, đảm nhiệm vai Hérodiade; Vergnet, Jean; Manoury, Herod; Gresse cha, Phanuel. Tôi ngồi bên piano, quay lưng ra cửa sổ và hát tất cả các vai, kể cả các khúc hợp xướng.

Tôi trẻ trung, sôi nổi, hoạt bát, vui vẻ, và tôi phải xấu hổ nói thêm là rất tham ăn. Tính tôi vẫn vậy. Nhưng nếu tôi buộc tội mình thì đó là để tự bào chữa vì đã thường xuyên muốn rời cây đàn piano để tới ăn trưa tại một chiếc bàn bày đầy những món ngon của một bữa tiệc buffet thịnh soạn trong chính phòng hóa trang này. Mỗi lần tôi làm ra vẻ sắp đến đó, các nghệ sĩ liền ngăn tôi lại và chính họ là người hét vào mặt tôi: “Làm ơn!… Tiếp tục đi!… Anh đừng dừng lại!…” Tôi nghe theo nhưng sự phục thù mới khiếp làm sao! Tôi đã chén ngon lành gần như tất cả các món được chuẩn bị cho tất cả mọi người! Các nghệ sĩ hài lòng đến độ nghĩ đến việc ôm hôn tôi nhiều hơn là việc ăn uống. Sao tôi phải phàn nàn chứ?

Tôi nghỉ tại Tòa Bưu chính, phố Fossé-aux-Loups, cạnh nhà hát. Chính trong căn phòng của tôi ở tầng trệt, nơi góc tòa nhà trông ra phố Argent, vào mùa thu tiếp theo tôi đã phác thảo đề cương cho Manon. Sau này và cho đến năm 1910, tôi thích nghỉ tại “Khách sạn Grand-Monarque” ở phổ Fripiers hơn.

Khách sạn này gắn liền với những kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi. Tôi rất thường xuyên sống ở đó cùng Reyer, tác giả của Sigurd và Salammbô, đồng nghiệp của tôi tại Viện hàn lâm Mỹ thuật! Ngay trong khách sạn này, ông và tôi cùng mất đi một người bạn và cộng sự chung là Ernest Blau. Blau qua đời ở đây, và mặc dù có lệ là không bao giờ bày màn tang trước cửa khách sạn nhưng cô chủ Wanters vẫn nhất quyết yêu cầu đám tang của ông phải được bố cáo và không được che giấu khách trọ. Chính trong phòng khách nơi quàn quan tài, giữa những người ngoại quốc, chúng tôi đã nói lời vĩnh biệt dịu dàng với người từng là cộng sự trong các vở Sigurd và Esclarmonde.

Một chi tiết thực sự rùng rợn. Ông bạn Blau tội nghiệp của chúng tôi đã ăn bữa tối cuối cùng của mình với Giám đốc Stoumon. Vì đến sớm, ông bắt đầu nhìn ngó một số loại quan tài rất xa xỉ được trưng bày tại một cửa hiệu bán áo quan ở phố Sablons. Khi chúng tôi vừa nói lời từ biệt cuối cùng và di hài Blau đã được đặt trong một hầm mộ tạm thời bên cạnh một quan tài đầy hoa hồng trắng của một cô gái trẻ, một trong những người khiêng nhận thấy rằng người đã khuất, nếu có thể được hỏi ý kiến, không thể chọn người láng giềng nào tốt hơn. Trong khi vị trưởng ban tang lễ đưa ra nhận xét này: “Chúng tôi đã thỏa thuận xong xuôi từ trước. Ông Blau đã chú ý đến một loại quan tài tuyệt vời và chúng tôi đã để lại cho ông ấy với giá rất hời!…”

Rời khỏi nghĩa trang rộng lớn mà thời đó vẫn còn rất hoang vắng, cảm xúc xót xa của một nghệ sĩ lớn là bà Jeanne Raunay đã khiến tất cả những người có mặt cảm động. Bà chầm chậm bước cạnh bậc thầy lớn Gevaert.

Ôi! Một ngày đông buồn!…

…

Các buổi diễn tập Hérodiade lần lượt diễn ra tại Nhà hát Monnaie. Với tôi chúng là những niềm vui và bất ngờ ngây ngất. Các con biết đấy, thành công rất đáng kể. Đây là những gì cha tìm thấy trên báo chí thời đó:

“…Rốt cuộc, buổi tối trọng đại đã đến.

Từ hôm trước – một ngày Chủ nhật – công chúng đã xếp hàng dài trước cửa nhà hát (thời đó loại vé giá thấp không được bán trước nhiều ngày). Nhân viên quầy vé phải thức trực cả đêm, và trong khi một số người bán lại chỗ trong hàng của mình với giá cao vào sáng thứ Hai, thì những người khác vẫn giữ chỗ rồi dễ dàng bán lại với giá sáu mươi franc mỗi chỗ thuộc khu sàn gỗ. Một vé loại ghế bành có giá một trăm năm mươi franc.

Tối hôm ấy, khán phòng như có bão.

Trước lúc mở màn, hoàng hậu bước vào lô riêng gần sân khấu, tháp tùng lệnh bà là hai cung nữ và Đại úy Chrétien, sĩ quan tùy tùng của nhà vua.

Trong lô cạnh đó là các hoàng thân quốc thích, Bá tước và Bá tước phu nhân Flandre, tháp tùng là Nam tước Van den Bossch d’Hylissem và Bá tước Oultremont de Duras, vị grand-maître của hoảng tộc.

Trong các lô triều thần có Jules Devaux, chánh văn phòng của nhà vua; các tướng Goethals và Goffinet, các sĩ quan phụ tả; Nam tước Lunden, quan đại giám mã; Đại tá Nam tước Anethan; Thiếu tá Donny, Đại úy Wyckerslooth, các sĩ quan cần vụ của nhà vua.

Trong các lô hạng nhất có: ông Antonin Proust, Bộ trưởng Bộ Mỹ thuật Pháp, cùng Nam tước Beyens, Bộ trưởng Bỉ tại Paris; các chánh văn phòng và bà Frère-Orban…vv…

Trong các lô gần sân khấu ở tầng trệt có: ông Buis, người vừa được bổ nhiệm thị trưởng, và các phó thị trưởng. Ngồi khu ghế bành trên ban công là nhiều nhân vật quan trọng đến từ Paris: các nhà soạn nhạc Reyer, Saint-Saëns, Benjamin Godard, Joncières, Guiraud, Serpette, Duvernois, Julien Porchet, Wormser, Le Borne, Lecocq…vv…

Các cây bút thời luận khi ấy cho rằng khán phòng huy hoàng lung linh này đã khiến tác phẩm thành công rực rỡ. Giữa màn hai và ba, Hoàng hậu Marie-Henriette triệu mời vào lô riêng của mình nhà soạn nhạc, người mà bà nhiệt liệt chúc mừng, và Reyer, tác giả vở Bức tượng mà Nhà hát Monnaie vừa phục dựng.

Sự nhiệt tình càng lúc càng tăng cho đến tận lúc kết thúc đêm diễn. Màn cuối kết thúc trong tiếng reo hò. Người ta hô to gọi nhà soạn nhạc lên sân khấu, màn được kéo lên nhiều lần nhưng “tác giả” không hề xuất hiện; và bởi công chúng không muốn rời nhà hát nên tổng đạo diễn Lapissida, người dàn dựng tác phẩm, cuối cùng phải lên thông báo “tác giả” đã rời nhà hát ngay khi buổi diễn kết thúc.

Hai ngày sau buổi ra mắt, nhà soạn nhạc được mời dự yến tại triều đình, và một sắc lệnh hoàng gia xuất hiện trên tờ Moniteur, phong tặng ông Huân chương Leopold đệ Ngũ đẳng.

Thành công vang dội của buổi ra mắt được báo chí châu Âu loan báo, họ ca ngợi vở diễn với những lời lẽ nồng nhiệt và hầu như không có ngoại lệ nào. Sự hâm mộ của những ngày đầu tiên vẫn được duy trì trong năm mươi lăm buổi diễn liên tiếp mà ngoài tiền vé đặt trước, theo báo chí thời đó, mỗi buổi thu về hơn bốn nghìn franc…

…

Hérodiade, vở opéra công diễn lần đầu trên sân khấu Nhà hát Monnaie vào ngày 19 tháng 12 năm 1881 trong hoàn cảnh đặc biệt rực rỡ mà chúng tôi vừa kể và sau nhiều lần phục dựng, theo báo chí Bỉ và các nơi khác, đã tái xuất tại nhà hát này trong nửa đầu tháng 11 năm 1911 sau gần ba mươi năm. Từ lâu Hérodiade đã vượt qua buổi biểu diễn thứ một trăm của mình ở Bruxelles.

…

Và tôi đã nghĩ tới một tác phẩm mới!…

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch