Thông tin chung

Tác giả: Wolfgang Amadeus Mozart.
Tác phẩm: Giao hưởng số 41 giọng Đô trưởng “Jupiter”, K. 551
Thời gian sáng tác: Hoàn thành ngày 10/8/1788.
Độ dài: Khoảng 28 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro vivace
Chương II – Andante cantabile
Chương III – Menuetto: Allegretto – Trio
Chương IV – Molto allegro
Thành phần dàn nhạc: flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 2 horn, 2 trumpet, timpani và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Giao hưởng số 41, cùng với 2 bản trước đó, số 39 và 40 được Mozart hoàn thành trong mùa hè năm 1788, quãng thời gian nghiệt ngã nhất trong cuộc đời của nhà soạn nhạc. Sức khoẻ của hai vợ chồng ông đều không được tốt, tình hình tài chính kiệt quệ khiến nhà soạn nhạc phải đi vay tiền bạn bè cũng như đem cầm đồ đạc của mình, đứa con gái 6 tháng tuổi bị bệnh mà qua đời và khán giả dường như quay lưng lại với các tác phẩm của ông. Bất chấp những khó khăn đó, chỉ trong vòng 9 tuần lễ ông đã hoàn thành 3 bản giao hưởng cuối cùng của cuộc đời mình và với sự đồng thuận to lớn, là những gì vĩ đại nhất mà ông đã sáng tạo ra trong thể loại này.

Không có tài liệu nào còn sót lại hé lộ về buổi công diễn ra mắt của 3 bản giao hưởng này. Tuy nhiên, tốc độ Mozart sáng tác có thể cho thấy nhu cầu bức thiết trong việc mang tác phẩm ra biểu diễn. Nhiều gợi ý cho thấy đã từng có lịch công diễn các tác phẩm này tại Vienna, thậm chí cả London nhưng không thể xác định được các buổi hoà nhạc đó đã thực sự được diễn ra hay bị huỷ bỏ.

Ba bản giao hưởng cuối cùng của Mozart đã được phân tích tỉ mỉ trong nhiều năm, đặc biệt là số 40 và 41. Trong Giao hưởng số 41, dường như Mozart dường như có ý định thể hiện sự xuất sắc tuyệt đối với tư cách một nhà soạn nhạc giao hưởng. Phạm vi cảm xúc của tác phẩm rất rộng lớn, định hình cho những gì sẽ xuất hiện sau đó trong các bản giao hưởng của Beethoven. Trong chương cuối, Mozart khiến chúng ta choáng ngợp khi thể hiện trình độ sáng tác phức điệu siêu đẳng với một đối âm 5 bè có thể đảo ngược, một kỹ thuật bị coi là lạc hậu và hiếm khi được sử dụng vào cuối thể kỷ 18. Một truyền thống tốt đẹp được kế thừa từ Bach và Handel đồng thời truyền cảm hứng cho những phức điệu vĩ đại của Beethoven sau này.

Nội dung

Chương I

Bản giao hưởng bắt đầu với 3 nốt C đột ngột, dồn dập được liên kết với nhau thành chùm 3. Âm nhạc mạnh mẽ, oai nghiêm. Một đoạn nhạc nhẹ nhàng, được lặp lại trả lời cao hơn một quãng 5. Chủ đề 2 tương phản, trữ tình được chơi trên violin và kèn gỗ. Sau một đoạn dừng, chương nhạc xuất hiện chủ đề 3 chơi trên violin được Mozart lấy từ aria chèn Un bacio di mano (Một nụ hôn tay), K. 541 (1 aria được sáng tác độc lập và được ca sĩ đưa vào một vở opera nhằm nâng cao vị thể của mình, một hoạt động thường xuất hiện trong thế kỷ 17 cho đến tận thế kỷ 19). Phần âm nhạc vui vẻ này đã tạo ra điểm nhấn thú vị của chương nhạc. Chương nhạc khép lại với nhiều xung đột, âm nhạc không có nhiều đổi mới lớn lao nào nhưng được Mozart phát triển và gói gọn các chủ đề với kỹ năng tuyệt vời

Chương II

Chương nhạc ở giọng Pha trưởng có hình thức sonata cũng được Mozart tạo ra với nhiều xung đột, lần này giữa chủ đề 1 thanh bình và chủ đề 2 nhiều kịch tính hơn. Về mặt âm nhạc, đây là Sarabande, một điệu nhảy có nguồn gốc tại Tây Ban Nha, sau đó phát triển tại Ý và Pháp, thường được Bach sử dụng nhiều trong các tổ khúc dành cho harpsichord và cello. Dù vậy, Mozart đã phát triển âm nhạc trong chương nhạc này theo một cách rất ít liên quan đến Baroque. Violin được chơi tắt tiếng, tạo ra âm sắc đặc biệt. Âm nhạc sâu sắc, nhiều đoạn được chuyển sang giọng thứ và duy trì được chất trữ tình trong toàn bộ chương.

Chương III

Chương nhạc tiếp tục tôn vinh các điệu nhảy khi phần Menuetto: Allegretto có nhịp điệu tương tự như Ländler, một vũ khúc nổi tiếng tại Áo và sau này thường được Schubert sử dụng. Trong phần Trio, motif 4 nốt nhạc sẽ tạo nên chủ đề chính của chương IV lần đầu xuất hiện nhưng ở bậc bảy của thang âm thay vì âm chủ và ở giọng thứ thay vì giọng trưởng nên có một tính chất hoàn toàn khác biệt. Chương nhạc rất thú vị khi xuất hiện một canon trên kèn gỗ, khi mà mỗi nhạc cụ đi vào và quyện với nhạc cụ trước đó tạo thành một chuỗi hợp âm xoắn kỳ lạ và bằng cách nào đó cuối cùng cũng trở về giọng Đô trưởng. Trò đùa vui vẻ này từng được Haydn thực hiện trước đó trong bản tứ tấu đàn dây giọng Rê trưởng “Con ếch”, Op. 50, No. 6.

Chương IV

Tâm điểm của toàn bộ tác phẩm nằm ở đây. Chương nhạc một điều kỳ diệu, ngay cả áp dụng tiêu chuẩn Mozart. Nhạc trưởng Claudio Abbado đã miêu tả: “Chương nhạc có nhiều ý tưởng chồng lên nhau, bùng phát hết cái này tới các khác, như pháo hoa vậy. Có rất nhiều dòng âm nhạc, màu sắc đa dạng. Sự khéo léo gần như không tưởng, vô hạn”. Chủ đề chính gồm 4 nốt nhạc đơn giản (Đô-Rê-Pha-Mi). Về mặt hình thức, chương nhạc có dạng sonata. Có 5 chủ đề lần lượt được Mozart đưa ra, tung hứng chúng theo nhiều cách khác nhau, đan dệt chúng thành những hoạ tiết phức tạp. Và rồi trong phần coda, toàn bộ 5 chủ đề được kết hợp, trở thành một fugue 5 bè biến nó thành một trong những chương giao hưởng phức tạp và tuyệt vời nhất. Một sức sống không thể cưỡng lại. Âm nhạc khó có thể thể làm được nhiều hơn thế. Georg Nikolaus von Nissen, người xuất bản cuốn sách về tiểu sử Mozart vào năm 1828 đã nhận xét: “Không có tác phẩm nào thuộc thể loại này mà tia lửa thần thánh của thiên tài rực rỡ và đẹp đẽ hơn”.

Về biệt danh “Jupiter”

Tên gọi “Jupiter” – thần Zeus theo cách gọi của người La Mã không phải do Mozart đặt. Theo Franz, con trai của Mozart, Johann Peter Salomon, nghệ sĩ violin người Đức là người nghĩ ra tên gọi này. Chính những hợp âm đầu tiên của bản giao hưởng đã gợi ra cho Salomon về sự uy nghi của Zeus và những tiếng sét của vị thần chúa tể đỉnh Olympus này. Ấn bản đầu tiên sử dụng tên gọi này là bản chuyển soạn cho piano của bản giao hưởng được in ở London vào năm 1823.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
laphil.com
nyphil.org
sfsymphony.org