Thông tin chung
Tác giả: Richard Strauss.
Tác phẩm: Ein Heldenleben, Op. 40 (Cuộc đời của người anh hùng)
Thời gian sáng tác: Năm 1898.
Công diễn lần đầu: Ngày 3/3/1899 tại Frankfurter Opern- und Museumsorchester dưới sự chỉ huy của tác giả.
Độ dài: Khoảng 45-50 phút.
Đề tặng: Dành tặng nhạc trưởng Willem Mengelberg và Concertgebouw Orchestra.
Cấu trúc tác phẩm: Tác phẩm gồm 6 phần
I – “Der Held” (Người anh hùng)
II – “Des Helden Widersacher” (Kẻ thù của người anh hùng)
III – “Des Helden Gefährtin” (Bạn đồng hành của người anh hùng)
IV – “Des Helden Walstatt” (Trận chiến của người anh hùng)
V – “Des Helden Friedenswerke” (Công cuộc vì hòa bình của người anh hùng)
VI – “Des Helden Weltflucht und Vollendung” (Người anh hùng giã từ thế giới và hoàn thành sứ mệnh)
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 3 flute, 4 oboe, (oboe 4 kiêm English horn), 2 soprano clarinet, clarinet giọng Mi giáng, bass clarinet, 3 bassoon, contrabassoon, 8 horn (các giọng Pha, Mi và Mi giáng), 2 trumpet giọng Mi giáng, 3 trombone, tenor tuba giọng Si giáng, tuba, timpani, bass drum, 2 snare drum, tenor drum, tam-tam, triangle, cymbals, 2 harp và dàn dây. Ngoài ra còn có 3 trumpet giọng Si giáng được sử dụng bên ngoài sân khấu.
Hoàn cảnh sáng tác
Khái niệm anh hùng là một trong những nguyên lý trung tâm trong âm nhạc Lãng mạn, nó xuyên suốt thế kỷ 19 như một leitmotiv. Khởi đầu với Beethoven, người đã thiết lập một mô hình được nhiều nhà soạn nhạc khác noi theo, sử dụng âm nhạc như một vũ khí đấu tranh và cuối cùng giành chiến thắng, thể hiện rõ trong các bản giao hưởng số 3, 5 và 9. Nó có ảnh hưởng sâu rộng đến thế hệ các nhà soạn nhạc hậu bối. Trong suốt thế kỷ 19, họ đã tìm cách tiếp bước Beethoven bằng nhiều hình thức khác nhau, cố gắng áp dụng chủ nghĩa anh hùng vào các tác phẩm của mình. Trong số đó, sự khẳng định rõ ràng nhất về khái niệm này đến từ Ein Heldenleben (Cuộc đời của người anh hùng) của Richard Strauss.
Là người say mê bản Giao hưởng số 3 “Eroica” của Beethoven, Strauss đã từng trăn trở trong một bức thư viết vào năm 1898: “Eroica của Beethoven rất ít được các nhạc trưởng của chúng ta yêu thích và vì lý do đó mà ngày nay hiếm khi được biểu diễn. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu bức thiết, tôi đang sáng tác một bản thơ giao hưởng rất hay có tựa đề Ein Heldenleben, dù không có một hành khúc tang lễ, nhưng dù sao cũng ở giọng Mi giáng trưởng và có rất nhiều horn – luôn được coi là thước đo của chủ nghĩa anh hùng. Nhờ không khí đồng quê trong lành, phác thảo của tôi đã tiến triển tốt và tôi sẽ hy vọng hoàn thành vào đầu năm mới”. Khi Strauss sáng tác tác phẩm đầy tham vọng của mình và hoàn thành nó vào ngày 27/12/1898, ông đã là một nhà soạn nhạc, nhạc trưởng nổi tiếng trên khắp châu Âu. Một số bản thơ giao hưởng trước đó như Don Juan, Till Eulenspiegels lustige Streiche, Also sprach Zarathustra hay Tod und Verklärung đã tạo ra những hiệu ứng rất mạnh đối với khán giả và những nhà phê bình.
Tất cả những gì Strauss đưa ra cho Ein Heldenleben chỉ là tiêu đề 6 phần của tác phẩm, nhưng ngay sau khi công diễn, ông đã bị nhiều nhà phê bình chỉ trích vì minh hoạ chính mình trong đó, như một bài báo đã viết: “Một hành động tự kỷ quái dị và như một bức tranh về người đàn ông nổi loạn mà người ta có thể gặp phải. Thành thật mà nói, đó là ông ấy”. Strauss tiếp nhận những lời phê bình như vậy một cách nghiêm túc nhưng ông không đồng tình với quan điểm đó. Ông phản kích: “Tôi không phải là anh hùng. Tôi không có đủ sức mạnh cần thiết. Tôi không bị loại khỏi trận chiến. Tôi thích rút lui, im lặng, yên bình”. Và trong một ghi chú chương trình, Strauss nhấn mạnh: “Chủ đề của tác phẩm không phải là một nhà thơ hay nhân vật lịch sử nào, mà khái quát hơn và là lý tưởng tự do về chủ nghĩa anh hùng vĩ đại và nhân văn”. Ông từ chối một chương trình cụ thể: “Không cần thiết phải có một chương trình. Chỉ cần biết rằng có một anh hùng chiến đấu với kẻ thù của mình”. Nhưng sau này Romain Rolland tiết lộ rằng Strauss từng nói với ông: “Tôi không hiểu tại sao mình không nên sáng tác một bản giao hưởng về bản thân; Tôi thấy mình khá thú vị như Napoléon hay Alexander” cũng như việc chính Strauss chỉ huy tác phẩm trong đêm ra mắt thay vì để lại nó cho Mengelberg, người được đề tặng và việc nhà soạn nhạc thú nhận chân dung bạn đồng hành của người hùng trong phần III của Ein Heldenleben chính là Pauline, vợ mình khiến có thể coi tác phẩm này như một phác thảo về khát vọng và tâm tư của chính Strauss.
Phân tích
Ein Heldenleben gồm 6 phần, được chơi liên tục, không ngừng nghỉ. Strauss vận dụng thủ pháp leitmotiv của Wagner, nhưng ở đây chúng chủ yếu đóng vai trò như những yếu tố cấu trúc trong một hình thức sonata-rondo mở rộng.
Phần I Người anh hùng xác lập chủ đề chính rộng lớn, lãng mạn, bay bổng qua 16 ô nhịp với một phạm vi khổng lồ trải dài trên 5 quãng tám ở giọng Mi giáng trưởng. Rolland nói về chủ đề đầu tiên này: “Dù có hay không có chương trình, điểm khởi đầu là cảm giác cuồng nhiệt và niềm vui hào hùng”. Chủ đề tương phản ở giọng Si trưởng xuất hiện trên âm vực cao của dàn dây và bộ hơi. Tiếng trumpet vang vọng, sau đó là một khoảng dừng lớn, duy nhất trong toàn bộ tác phẩm.
Phần II Kẻ thù của người anh hùng mở đầu với những nốt nhạc bán cung của kèn gỗ và âm vực thấp của kèn đồng. Một leitmotiv đáng lo ngại nổi lên trên hai tuba chơi song song một quãng năm. Giai điệu chính nổi lên trên flute, châm biếm, mỉa mai. Chủ đề người anh hùng xuất hiện nhưng ở giọng thứ, sải bước dài, bay bổng. Âm nhạc trở nên dồn dập nhưng vẫn cao quý và trang nghiêm.
Phần III Bạn đồng hành của người anh hùng. Strauss đã thừa nhận đó là chân dung của người vợ mình Pauline, được thể hiện trên violin bằng một chuỗi cadenza dài. Strauss cho biết: “Tôi muốn thể hiện đó là vợ của tôi. Cô ấy rất phức tạp, rất nữ tính, một chút phóng đãng, một chút quyến rũ, không bao giờ lặp lại và những điều đó luôn được thay đổi sau mỗi phút. Ở phần đầu, người anh hùng theo sau cô ấy, tiến tới cao độ mà cô ấy vừa hát (Pauline là một ca sĩ opera), nhưng cô ấy thoát ra xa hơn. Sau đó, cuối cùng cô ấy nói: “Không, tôi đang ở đây. Anh ấy ở trong suy nghĩ của mình, trong giọng điệu của riêng anh ấy. Nhưng rồi cô đã đi theo người anh hùng”. Âm nhạc mang tới nhiều tâm trạng khác nhau: dịu dàng, đa cảm, giận dữ, vui tươi, yêu thương.
Tiếng trumpet ngân vang một biến tấu của motif người anh hùng trên phần đệm của bộ gõ mở đầu cho Phần IV Trận chiến của người anh hùng. Lần đầu tiên trong tác phẩm, nhịp điệu được chuyển sang ¾ thay vì 4/4. Một chuỗi những câu kèn lệnh của trumpet lảnh lót đẩy âm nhạc đến cao trào trong giọng Son giáng trưởng. Bộ gõ đóng vai trò quan trọng trong phần này. Nhịp 4/4 quay trở lại. Một chủ đề mới cantabile xuất hiện và vẫn là trên trumpet. Người anh hùng dường như đã chiến thắng. Rolland miêu tả đó là “trận chiến hay nhất trong âm nhạc”.
Âm nhạc trở nên trầm lắng hơn và chúng ta đã đến đoạn đáng chú ý trong toàn bộ tác phẩm, phần V Công cuộc vì hòa bình của người anh hùng. Có lẽ căn cứ trên chính phần này mà các nhà phê bình nhận định đây là một tác phẩm được Strauss nói về bản thân mình. Ông đã tạo ra một kết cấu vừa dày đặc, vừa tinh tế khi trích dẫn các tác phẩm khác của mình: vở opera Guntram, các bản thơ giao hưởng Don Juan, Till Eulenspiegels lustige Streiche, Also sprach Zarathustra, Tod und Verklärung, Macbeth và cả Don Quixote được sáng tác cùng thời kỳ với Ein Heldenleben, các lied Traum durch die Dämmerung và Befreit. Âm nhạc thật phong phú, như một chiếc kính vạn hoa liên tục thay đổi đáng kinh ngạc với các kết cấu và màu sắc vô cùng đa dạng.
Nhà phê bình James Hepokoski từng phân tích toàn bộ Ein Heldenleben là một phiên bản lớn của hình thức sonata, trong đó 3 phần đầu tiên là phần giới thiệu, phần IV là trình bày, phần V là tái hiện còn phần VI cuối cùng “Người anh hùng giã từ thế giới và hoàn thành sứ mệnh” đóng vai trò là một coda. Nhiều chủ đề trước đó đã xuất hiện trở lại. Được mở đầu với màn song ca trên tuba và rồi tiếng violin độc tấu được tái hiện, như để xoa dịu những cơn ác mộng và trả lại thế giới cuộc sống vốn có của nó. Một biến tấu trang trọng cuối cùng trên chủ đề người anh hùng được toàn bộ kèn đồng trình bày, mang tới cuộc đời viên mãn cho nhân vật chính của chúng ta, khép lại tác phẩm.
Bất chấp những soi mói từ phía các nhà phê bình, Ein Heldenleben, thơ giao hưởng có quy mô đồ sộ nhất của Strauss cho đến lúc đó, đã nhanh chóng trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất của nhà soạn nhạc. Và cũng sau Ein Heldenleben, ông đã ít viết thơ giao hưởng hơn, chỉ còn 2 tác phẩm Symphonia domestica (1903) và Eine Alpensinfonie (1915) để dành thời gian tập trung hơn vào các vở opera với những tác phẩm tuyệt vời như Salome, Elektra hay Der Rosenkavalier, khẳng định mình là một trong những nhà soạn nhạc ưu tú nhất thế hệ.
Cobeo



