Tác giả: Domenico Scarlatti.
Tác phẩm: Các sonata cho đàn phím
Thời gian sáng tác: Không có mốc thời gian chính xác nhưng nhiều khả năng Scarlatti sáng tác hầu hết 555 bản sonata của mình chủ yếu chỉ trong 20 năm cuối đời (1737-1757).

Có lẽ một trong những sáng tác mang đậm dấu ấn cá nhân nhất của thời kỳ Baroque chính là sonata đàn phím của Domenico Scarlatti. Những bản sonata của ông là một ngoại lệ đối với hầu hết các “quy tắc” trong lịch sử âm nhạc. Không giống như nhiều sáng tác khác, không thể nào xác định rõ ràng những ảnh hưởng nào tác động lên phong cách của chúng. Chúng nổi bật lên rõ ràng là những sáng tạo độc đáo, đầy sáng tạo của Scarlatti. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng các tác phẩm này xa lạ như thế nào vào thời điểm chúng được sáng tác. Nhà thơ Gabriele D’Annunzio đã ví các bản sonata này như: “một chiếc vòng cổ vỡ ra, tạo ra một tràng mưa ngọc trai lấp lánh, lăn tròn và nảy lên như những bong bóng quý giá mang vẻ đẹp long lanh của nước”.

Trong 33 năm đầu đời, Scarlatti sống ở Ý, phong cách sáng tác chịu ảnh hưởng nhiều từ cha mình, nhà soạn nhạc danh tiếng Alessandro Scarlatti và âm nhạc nhà thờ xứ Naples. Ông không để lại nhiều tác phẩm thực sự có ý nghĩa. Tuy nhiên, vào năm 1720, cuộc đời Scarlatti đã thực sự rẽ sang một hướng khác. Ông tới London rồi chuyển đến Lisbon, trở thành người phụ trách âm nhạc cho nhà nguyện hoàng gia. Bên cạnh đó, Scarlatti còn phải đảm nhiệm thêm công việc dạy học cho các thành viên của hoàng gia Bồ Đào Nha, trong đó có công chúa Maria Barbara, người thể hiện tài năng chơi harpsichord tuyệt vời. Năm 1729, Barbara kết hôn với hoàng tử Ferdinand, vua Ferdinand VI trong tương lai của Tây Ban Nha. Scarlatti cũng theo cô học trò của mình chuyển đến sinh sống tại đây. Ban đầu là bốn năm tại Seville và sau đó định cư tại Madrid cho đến khi qua đời. Barbara luôn yêu cầu những tác phẩm mới và chính vào lúc này, những phép màu bắt đầu thành hình dưới dạng ít nhất 555 bản sonata – một di sản vô cùng độc đáo trong lịch sử âm nhạc. Chúng hầu hết dành cho harpsichord biểu diễn, chỉ có một số ít là của piano (nhạc cụ khá mới mẻ vào thời điểm này), organ và một vài nhạc cụ khác.

Khi còn sống, Scarlatti chỉ cho xuất bản 30 bản sonata của mình vào năm 1738 trong tuyển tập 30 bài tập cho harpsichord với lời đề tựa: “Hỡi các độc giả! Dù bạn là một người nghiệp dư hay một bậc thầy uyên thâm, trong những tác phẩm này, đừng mong đợi bất kỳ kiến thức sâu sắc nào, mà là một sự đua vui khéo léo với nghệ thuật, để giúp bạn làm chủ được cây đàn harpsichord. Không phải vì lợi ích cá nhân hay tham vọng đã thúc đẩy tôi xuất bản chúng mà là sự vâng lời. Có thể chúng làm bạn hài lòng, trong trường hợp đó, tôi có thể sẵn lòng tuân theo những mệnh lệnh tiếp theo để làm bạn vui vẻ theo một phong cách đơn giản và đa dạng hơn. Vì vậy, xin hãy tỏ ra nhân hậu hơn là khắt khe phê phán, và khi đó niềm vui của bạn sẽ tăng lên. Hãy sống hạnh phúc!”. Cho đến nay, toàn bộ bản thảo gốc của Scarlatti đã không còn, có lẽ đã bị phá huỷ trong cơn động đất năm 1755. Tuy nhiên, qua nhiều nghiên cứu, hầu hết các sử gia âm nhạc đều có chung nhận định là chúng được sáng tác hầu hết trong 20 năm cuối đời Scarlatti.

Các sonata này của Scarlatti không hề phổ biến trong khoảng thời gian sau đó. Frédéric Chopin đã giao một số tác phẩm cho học trò của mình, nhưng họ hoàn toàn không mấy hứng thú. Mặc dù bản thân Chopin thường bày tỏ niềm tin rằng Scarlatti sẽ sớm được biểu diễn trong các buổi hoà nhạc như một phần của tiết mục chuẩn mực, nhưng điều này chỉ xảy ra cho đến khi Franz Liszt và Clara Schumann bắt đầu đưa các tác phẩm này vào các chương trình độc tấu thường xuyên của họ từ khoảng năm 1838. Cuối cùng, vào năm 1839, ấn bản đầu tiên các sonata của Scarlatti đã được xuất bản tại Vienna, do Carl Czerny biên tập, người đã ghi chú trong lời tựa của mình: “Chính Liszt là người đã khơi nguồn cảm hứng cho dự án này”. Các tác phẩm được ký hiệu là CZ. Năm 1906, nhà âm nhạc học người Ý Alessandro Longo đã biên soạn một danh mục gần như toàn diện các sonata của Scarlatti. Trong nhiều năm, các tác phẩm này được đánh dấu ký hiệu L và được xác định theo dựa theo sắp xếp của Longo. Quan điểm của Longo bắt nguồn từ ấn bản toàn tập mang tính cột mốc gồm 11 tập tác phẩm của Scarlatti, trong đó ông sắp xếp các sonata thành những nhóm nhất định. Tuy nhiên, niên đại cũng như cách phân nhóm này sau đó đã được nhà nghiên cứu âm nhạc, nghệ sĩ harpsichord Ralph Kirkpatrick hoàn toàn chỉnh lý và sắp xếp lại khác đi trong công trình nghiên cứu về nhà soạn nhạc vào năm 1953, cố gắng bám theo mốc thời gian. Ngày nay, các bản sonata của Scarlatti thường xuyên được giới thiệu dựa vào danh mục này, được ký hiệu là Kk., Kp. hay đơn giản là K. Kirkpatrick còn đưa ra một khuyến cáo: “Các chỉ dẫn [tempo] của Scarlatti dường như ít liên quan đến tốc độ thực sự cần chơi; thay vào đó, chúng mang ý nghĩa chỉ dẫn về tính chất tiết tấu. Phần lớn tác phẩm Scarlatti thường bị chơi quá nhanh. Presto, chẳng hạn, không nhất thiết phải chỉ đến nhịp độ. Nó chưa bao giờ nhằm phô diễn kỹ thuật thuần túy. Ngược lại, nó có thể được hiểu đúng hơn là sự sống động, nhanh nhạy, sẵn sàng đáp ứng ngay lập tức những sắc thái dí dỏm hoặc những chuyển biến biểu cảm chớp nhoáng… Nhiều bản Allegro và Andante của Scarlatti thực tế lại có tốc độ gần như nhau”. Giorgio Pestelli vào năm 1967, sửa chữa một số lỗi của Kirkpatrick và bổ sung một số tác phẩm được cho là của Scarlatti và sử dụng ký hiệu P.

Là một nhà soạn nhạc Ý, khi chuyển đến Tây Ban Nha, Scarlatti đã có cơ hội khám phá âm nhạc dân gian và những nhịp điệu phổ biến của xứ sở này ngay trong hình thức nguyên bản của chúng. Các bản sonata của ông phản ánh sống động nếp sống đầy màu sắc và cảm xúc của người dân bán đảo Iberia: ngọn lửa flamenco, tiếng lách cách của castanets, âm gảy ngân vang của guitar và tiếng trống dồn dập. Thế nhưng, chúng vẫn giữ được nhiều yếu tố Ý, không ít lần còn bảo tồn phong cách bel canto. Scarlatti thường xuyên có những chuyến đi đến Cádiz và Granada, nơi cuộc sống tràn đầy vẻ gợi cảm mang hơi hướng cộng đồng Hồi giáo Bắc Phi, cùng nét chấm phá phương Đông trong những khúc ca Andalusia. Để chơi hết toàn bộ 555 bản sonata, cần khoảng 34h, gần gấp đôi con số các tác phẩm dành cho piano của Ludwig van Beethoven. Phần lớn sonata của Scarlatti được viết ở hình thức hai đoạn, cả hai đều được lặp lại. Một số bản sonata mang sắc thái sâu lắng nghiêm trang, số khác lại nhẹ nhàng, thậm chí gần như hài hước. Có bản gợi nhớ điệu vũ cung đình, có bản lại như bài ca đường phố. Chính khả năng bao quát phạm vi phong cách và tâm trạng rộng lớn này là một trong những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Scarlatti. Một đặc trưng khác của ông là năng lực “pha trộn những hình thức hoặc cấp bậc biểu đạt khác nhau”. Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã đúc kết những đặc điểm khác trong phong cách sáng tác của Scarlatti:

– Ảnh hưởng của âm nhạc dân gian xứ Iberia (Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha). Ví dụ như việc ông sử dụng điệu thức Phrygian và những chuyển điệu khác vốn xa lạ, ít nhiều không thuộc về truyền thống âm nhạc nghệ thuật châu Âu. Nhiều hình thức chạy ngón và hoà âm nghịch tai trong nhạc của ông gợi liên tưởng tới guitar.
– Ảnh hưởng của guitar còn thể hiện qua kỹ thuật nhấn mạnh ở những nốt được lặp đi lặp lại.
– Một thủ pháp hình thức trong đó mỗi nửa bản sonata dẫn tới một nơi, mà Kirkpatrick gọi là điểm mấu chốt, đôi khi được nhấn mạnh bằng một khoảng dừng. Trước điểm mấu chốt, các bản sonata của Scarlatti thường chứa đựng sự phong phú về chủ đề; sau điểm đó, âm nhạc lại thiên về những hình thức chạy ngón lặp lại, khi thì rời khỏi giọng chính (ở nửa đầu), khi thì quay trở lại giọng chính (ở nửa sau).
– Khuynh hướng mang đậm phong cách galant, chú trọng vào một giai điệu rõ ràng, dễ nghe với phần đệm đi kèm. Chủ đề này mang hơi thở bel canto, nhẹ nhàng, nhấn mạnh vào tính trữ tình, ít phô diễn kỹ thuật phức tạp. Scarlatti rất ít khi sử dụng phức điệu, trái ngược hoàn toàn với Johann Sebastian Bach.

Sonata giọng Son thứ, K. 8 là một bài luyện tập cho việc xử lý các nốt chấm dôi, vốn chẳng bao giờ là điều dễ dàng, nhất là khi chúng xuất hiện liên tục xuyên suốt cả tác phẩm. Bên cạnh đó còn là kết cấu đối âm bốn bè, kèm vô số dấu nối và đảo phách, đòi hỏi sự nghiên cứu cực kỳ cẩn thận. Tác phẩm mang một vẻ cao quý và u buồn. Ở cuối mỗi phần, âm trì tục được nhấn bằng một hợp âm rải, mô phỏng tiếng gảy dây guitar.

Sonata giọng Rê thứ, K. 9 có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất của Scarlatti. Từ thế kỷ 19, bản nhạc này đã được đặt tên là “Đồng quê”. Nhịp đung đưa dịu dàng cần được giữ thăng bằng, không vội vã. Nhiều yếu tố cơ bản là thiết yếu để chơi tác phẩm này: vẻ đẹp âm sắc, phong cách cantabile, cảm nhận về nhịp điệu, ngắt câu, sự đều đặn của ngón trong các đoạn chạy, láy, sự tinh tế trong cảm nhận hợp âm và tiến triển của chúng, và trên hết có lẽ là một nét buồn man mác, rõ nhất ở những ô nhịp cuối cùng.

Sonata giọng Son trưởng, K. 13, được chỉ dẫn Presto và nhịp Alla breve. Không dễ để đáp ứng tốc độ này. Những trò ưa thích của Scarlatti, chéo tay và các nốt lặp, được phô diễn đồng thời, trong khi toàn bộ giai điệu mô phỏng âm thanh của castanets. Đây là nghệ thuật bậc thầy viết cho đàn phím bậc thầy. Và chỉ qua bản sonata này thôi, ta đã có thể hiểu được sự gần gũi giữa Scarlatti và âm nhạc của các nhà soạn nhạc Tây Ban Nha ra đời hai trăm năm sau (Enrique Granados, Isaac Albéniz, Manuel de Falla).

Sonata giọng La trưởng, K. 24 được Kirkpatrick mô tả như “một cuộc hoan ca thực sự của những âm thanh rực rỡ… harpsichord, trong khi vẫn giữ nguyên bản chất tuyệt vời và nguyên bản của mình, lại được mô phỏng cho cả một dàn nhạc trong hội chợ dân gian Tây Ban Nha. Nó không còn là một nhạc cụ độc tấu nữa, mà là cả một đám đông”. Những nốt lặp được chia đều cho hai tay, những quãng nhảy rộng kèm theo đổi tay, các quãng ba kép, những đường chạy âm giai sáng lóa và chút phảng phất của flamenco, tất cả hoà quyện lại khiến đây trở thành một trong những sonata kịch tính nhất của ông. Bản nhạc này cũng nằm trong tập 30 tác phẩm được Scarlatti xuất bản.

Sonata giọng Si thứ, K. 27 chắc chắn đây là một trong những ví dụ sớm nhất của chủ nghĩa tối giản trong âm nhạc khi Scarlatti tạo ra một “vòng lặp”, lặp đi lặp lại cùng một nét nhạc suốt sáu ô nhịp, hai lần liên tiếp. Trong vòng lặp đó, hai tay đổi chỗ cho nhau hai lần.

Sonata giọng Rê trưởng, K. 29 nằm trong tập 30 tác phẩm được Scarlatti xuất bản. Dường như Bach đã lưu ý đến tác phẩm này trước khi viết Goldberg Variations (ra đời sau đó vài năm). Nổi tiếng với những màn chéo tay dí dỏm, ở đây Scarlatti đưa vào một số ví dụ khắt khe rõ rệt nhất của mình về mặt kỹ thuật. Sonata này là sự dung hợp của toccata và flamenco. Sự rực rỡ của toccata phải được điểm xuyết bằng niềm đam mê của tinh thần flamenco thì tác phẩm mới thành công.

Sonata giọng Rê thứ, K. 64, là một trong tác phẩm mang lại hiệu quả rất khác biệt trên harpsichord. Những hợp âm tay trái với các “nốt sai” tạo hiệu ứng gõ và ồn ào hơn nhiều nhưng chắc chắn là tuyệt diệu. Trên piano, rất khó tạo ra âm thanh có tính kim loại như vậy. Người nghe như nghe thấy cả một nhóm bass continuo ở phía sau, đang vui vẻ giữ nhịp. Và trên tất cả, Scarlatti đặt vào đó một giai điệu vô cùng duyên dáng, đúng phong cách của một gavotte.

Sonata giọng Si thứ, K. 87 có đối âm bậc thang và những chồng âm đảo phách gợi nhớ đến Giovanni Pierluigi da Palestrina, nhà soạn nhạc được thầy giáo của Scarlatti là Bernardo Pasquini hết mực tôn sùng. Pasquini từng viết năm 1690: “Kẻ nào dám tự nhận là nhạc sĩ hay nghệ sĩ organ mà không nếm mật ngọt, không uống sữa từ những sáng tác thần thánh của Palestrina, thì kẻ đó không còn nghi ngờ gì, mãi mãi chỉ là một kẻ khốn khổ”. Ở phần mở đầu, sự gần gũi của hai tay như càng nhấn mạnh căng thẳng do việc giai điệu lơ lửng quanh âm chủ, hiếm khi rời xa quá lâu. Những quãng ba buồn bã trở nên dữ dội hơn sau một cao trào, đồng thời tạo ra hiệu ứng hemiola (nhịp ba được tam thời cảm nhận như nhịp hai, làm tăng thêm sự dồn nén và kịch tính). Âm trầm hạ xuống hai lần theo chu kỳ quãng năm, trước khi bản sonata đầy cảm hứng này khép lại bằng một nét nhạc đi xuống đầy mệt mỏi.

Trong Sonata giọng Rê trưởng, K. 96 dường như có cả một dàn nhạc như đang hoạt động. Nhiều yếu tố ta nghe thấy trong các sonata khác (khúc kèn rộn rã, những nốt lặp như mandolin, những cú nhảy điêu luyện) đều có mặt, nhưng giờ được kết hợp để tạo nên một màn trình diễn rực rỡ. Sự chuyển đổi giữa giọng trưởng và thứ cũng như sự va chạm giữa Si giáng và Si bình được khai thác vô cùng hiệu quả. Kirkpatrick gọi toàn bộ tác phẩm là “một màn trình diễn chưa từng có của trí tưởng tượng tự phát”.

Sonata giọng La thứ, K. 109 là một viên ngọc quý. Đây là bản duy nhất trong toàn bộ 555 sonata được ghi chú Adagio. Tác phẩm mang rõ ảnh hưởng của âm nhạc Moorish (âm nhạc Ả Rập của những người Hồi giáo sinh sống nhiều ở bán đảo Iberia), với sắc thái u uất, sầu muộn. Nhiều nốt nhạc appoggiatura trang trí, những tiếng thở dài đi xuống nơi hai bàn tay chéo qua nhau, những chùm ba buồn bã ở cuối mỗi đoạn, tất cả đều là manh mối để đi đến cách diễn giải tổng thể. Nếu tuân thủ cả hai lần lặp, đây là một trong những bản sonata dài nhất của Scarlatti.

Sonata giọng La trưởng, K. 113 mở đầu bằng một đoạn fanfare ngắn mở ra cảnh nhộn nhịp, ồn ào, như thể đám đông đang tụ họp cho một sự kiện lớn. Bản nhạc dần biến thành một moto perpetuo, được tăng thêm sức sống nhờ trò chơi đổi tay và những cuộc du ngoạn của hoà âm.

Sonata giọng Rê thứ, K. 141 là một tác phẩm dữ dội, đúng với tinh thần ma quái của giọng điệu này.. Làn sóng những nốt lặp lại mô phỏng tiếng tremolo của mandolin, một nhạc cụ đặc biệt thịnh hành ở Napoli vào thời Scarlatti.

Các Sonata từ 142-147 bị các học giả về Scarlatti như Joel Sheveloff và Walter Gerstenberg nghi ngờ về tính xác thực. Sonata giọng Son trưởng, K. 146, đơn giản và mộc mạc. Tác phẩm này đòi hỏi tính thanh nhã và duyên dáng, không chỉ là lướt nhanh qua.

Sonata giọng Đô trưởng, K. 159 mở đầu mô phỏng tiếng tù và săn bắn. Đúng là như vậy. Nhưng với bất kỳ người Ý nào, đặc biệt là người Napoli (quê hương Scarlatti), thì bản sonata này trên hết chính là một tarantella, điệu nhảy đặc trưng ở nơi đây. Một trong những đặc điểm chính của tarantella là sự xen kẽ giữa trưởng và thứ và bản sonata này thực hiện đúng như vậy: phần hai mở đầu bằng Đô thứ và giữ nguyên giọng này cho đến khi chủ đề trở lại sau một đoạn những nốt nhạc chạy xuống. Tác phẩm này cũng gợi ý dáng dấp của hình thức sonata cổ điển, với việc tái hiện chủ đề mở đầu ở chủ âm.

Sonata giọng Mi trưởng, K. 206 được xác định là tác phẩm đầu tiên trong tập “Venice” ra đời từ năm 1753. Bản nhạc thay đổi giọng liên tục, mang đến vẻ huyền bí. Phần thứ hai thậm chí còn ám ảnh hơn và cách Scarlatti phát triển chất liệu thật tài tình. Scarlatti giữ lại điều hay nhất cho những ô nhịp cuối: một đường giai điệu vút lên tới Đô cao; rồi lại đổ xuống trong tiếng than vãn với một nốt trang trí appoggiatura rơi vào Rê; cuối cùng kết thúc mơ hồ trên hợp âm đồng âm ở giọng chủ. Việc thiếu hẳn quãng ba trưởng hay thứ khiến chúng ta vẫn phải băn khoăn cho đến phút chót.

Sonata giọng Si thứ, K. 377 gần như hoàn toàn được viết chỉ với hai bè. Các nốt móc đơn chạy đều trong tay phải đối lập với bè trầm bước đều ở tay trái. Chủ đề của nó có tính xoáy vòng. Chỉ dẫn tốc độ allegrissimo thúc giục nghệ sĩ biểu diễn phải giữ tiết tấu thật sinh động.

Sonata giọng Mi trưởng, K. 380 là một tác phẩm xúc động. Nó mang một vẻ thanh lịch tao nhã từ nốt nhạc đầu tiên đến nốt nhạc cuối cùng. Những cảm xúc dịu dàng cố gắng biểu đạt trong dáng dấp vương giả nhất, nhưng không bao giờ được phép vượt ra ngoài vào thế giới thường nhật.

Sonata giọng Rê trưởng, K. 430 là một trong những bản sonata duyên dáng nhất của Scarlatti. Chỉ dẫn tốc độ là Non presto ma a tempo di ballo (Không nhanh nhưng theo nhịp điệu một điệu nhảy). Đây là một ví dụ cho thấy Scarlatti có thể biểu đạt quá nhiều bằng những phương tiện ít ỏi. Ngay lập tức người nghe bị cuốn hút bởi giai điệu giản dị. Tác phẩm khai thác nhiều những lời xen ngang ở quãng trầm.

Sonata giọng Pha thứ, K. 466 hoàn toàn được xây dựng bằng một chuỗi các hợp âm, mà Scarlatti đã khéo léo vận dụng đến mức tạo nên một tác phẩm liền mạch và bền vững. Ở đây, những chuyển điệu lạ thường đã trở thành hạt nhân của hình tượng thi ca mà ông dùng để đưa người nghe du hành qua các thế giới hoà âm khác nhau.

Scarlatti rất biết cách viết một mở đầu đầy hấp dẫn. Khi lật qua hàng trăm bản sonata để chọn lấy một bản để biểu diễn, những ô nhịp đầu tiên là then chốt. Nếu mở đầu nhạt nhòa, tác phẩm đó sẽ dễ bị bỏ qua ngay để chọn bản khác. Sonata giọng Mi giáng trưởng, K. 474, chắc chắn là khác thường. Mở đầu bằng một nốt rung (trill) ở tay phải, ngay lập tức được tay trái mô phỏng lại, âm thanh khởi đầu nghe như một đoạn kết. Nhưng sau đó âm nhạc trở nên phóng túng hơn. Chủ đề hai rất đậm màu sắc Tây Ban Nha. Ở phần sau tính độc đáo được mở rộng khi một giai điệu mới xuất hiện, là sự đảo ngược của chủ đề mở đầu.

Sonata giọng Pha thứ, K. 481 là một trong những tác phẩm cảm động nhất của Scarlatti. Sonata này chứa đựng nhiều thủ pháp biểu cảm để tạo hiệu ứng gần như thôi miên. Những đoạn lặp nốt liên tục ở tay phải làm tăng thêm cảm giác ngột ngạt. Tất cả tạo nên một bức tranh u sầu.

Sonata giọng Đô trưởng, K. 487 mang phong cách hùng vĩ, với tiếng nhạc cụ bộ hơi hiện rõ ngay từ phần mở đầu. Tác phẩm được đặc trưng với những bước nhảy quãng tám rộng ở nhiều quãng âm khác nhau. Đôi khi, trumpet, horn, dàn dây, gỗ và trống hoà quyện thành một khối âm thanh choáng ngợp ở phần kết của sonata, với sự bổ sung của chuông. Cữ âm và sự dày đặc âm thanh, như ẩn ý mà nhà soạn nhạc đặt trong kết cấu, quả thật vô cùng đồ sộ.

Hiếm có tác phẩm nào mở màn hiệu quả như Sonata giọng Rê trưởng, K. 491. Kèn trumpet và trống trịnh trọng loan báo một cuộc diễu hành hoàng gia với phong cách rực rỡ. Sau một khoảng ngắt, Scarlatti bất ngờ chuyển sang giọng Đô trưởng, một bước thay đổi đầy mưu mẹo, bất ngờ, như thể một nhân vật mới vừa xuất hiện. Điệu vũ tưng bừng này tiếp diễn với một chuỗi như thác các nốt nhanh ở cả hai tay, tựa như có thêm tiếng castanets. Đoạn ngắt trong nửa sau của hình thức hai đoạn dẫn ta đến giọng Pha trưởng, rất xa với chủ âm, tạo nên khoảnh khắc lộng lẫy nhất của bản sonata lễ hội này.

Sonata giọng Đô trưởng, K. 513, được chính Scarlatti đặt tên là “Đồng quê”. Tác phẩm có hình thức ba đoạn, phần mở đầu mang chất ngây thơ đặc trưng của âm nhạc mục đồng. Nhưng cảm giác ấy chỉ kéo dài đúng hai ô nhịp rưỡi. Ngay sau đó là một bất ngờ: cùng giai điệu ấy nhưng hạ xuống một giọng, sang Si giáng trưởng. Phần còn lại dẫn dắt rất khéo léo, với những gam chạy cuồn cuộn trên nền một drone bass (một nốt nhạc hoặc hai nốt chênh nhau quãng 5) được lặp đi lặp lại, mở ra phần thứ hai, nơi những người chăn cừu chơi kèn túi và sáo. Sự giản dị chính là sức cuốn hút của nó. Giai điệu bắt nguồn từ một bài hát Giáng Sinh phổ biến ở Napoli, Tu scendi dalle stelle (1732) do giám mục Alphonsus Maria de’ Liguori sáng tác. Sau bức tranh đầy chất đồng quê, Scarlatti bất ngờ tung ra một đoạn presto quay cuồng để khép lại sonata với phong thái rực rỡ. Trên thực tế, đây cũng là tác phẩm kết thúc tập sonata “Venice” số 12, được cho là sáng tác vào năm 1756.

Phải đến thế kỷ 20, các sonata của Scarlatti mới giành được vị trí của mình trong các chương trình hoà nhạc. Vladimir Horowitz đặc biệt thích thú các tác phẩm này và thường xuyên đưa chúng vào danh mục biểu diễn. Ngoài ra, ta còn có thể kể đến những nghệ sĩ piano lừng danh khác như Dinu Lipatti, Clara Haskil, András Schiff hay Ivo Pogorelich. Nhiều nghệ sĩ harpsichord cũng tìm đến chúng, để giới thiệu cho người nghe những tác phẩm này ở dạng nguyên bản. Scott Ross là người đầu tiên thu âm trọn bộ 555 bản sonata trong vòng 15 tháng từ 16/6/1994 đến 10/9/1996. Qua việc những tác phẩm này được biểu diễn trên cả hai nhạc cụ, người nghe có cơ hội so sánh và nhận thấy rằng màu sắc cũng như tâm trạng mà các bản sonata gợi lên, cùng với kỹ thuật bàn phím cần thiết, lại quá tiên tiến, đến mức không thể không đặt ra câu hỏi liệu nhà soạn nhạc có phần nào dự đoán trước sự xuất hiện của piano hiện đại hay không. Hoặc có thể ông chỉ đơn giản là quan tâm đến tinh thần và hiệu quả âm nhạc, muốn khám phá và biến đổi nhạc cụ vượt ra ngoài giới hạn thông thường, tạo ra những âm thanh gần như dàn nhạc. Đó là chưa kể một số tác phẩm, chủ yếu thời kỳ cuối, yêu cầu mở rộng lên năm quãng tám thay vì bốn như các harpsichord vào thời kỳ của ông. Rõ ràng, dù có chủ ý hay không thì với ngôn ngữ âm nhạc đầy sáng tạo này, những sonata của Scarlatti có phần báo trước cho sự nở rộ của những tác phẩm dành cho piano độc tấu sẽ diễn ra vào vài thập kỷ sau đó. Cùng với những tên tuổi khác như Beethoven, Chopin hay Claude Debussy, Scarlatti đã góp phần làm thay đổi thể loại này mãi mãi.

Cobeo