“Khi tôi muốn ca hát về tình yêu thì tình yêu lại biến thành đau khổ, nhưng khi tôi chỉ muốn hát về đau khổ thì đau khổ lại hoá thành tình yêu.” – Franz Schubert

Sự phát triển của con người và xã hội luôn liên tục và âm nhạc cũng không đứng ngoài quy luật đó. Bối cảnh lịch sử những năm cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 tại châu Âu có những biến động đáng kể tạo nên những thay đổi lớn về chính trị, kinh tế và nghệ thuật. Hoà mình vào dòng chảy này, âm nhạc cổ điển cũng có những chuyển mình cho phù hợp với quy luật tự nhiên. Giai đoạn Cổ điển Vienna khép lại với những tên tuổi lừng lẫy như Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven để mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn Lãng mạn mà sự huy hoàng của nó lan toả suốt thế kỷ 19 với rất nhiều nhà soạn nhạc ưu tú như Robert Schumann, Frédéric Chopin, Johann Brahms hay Pyotr Ilyich Tchaikovsky nhưng người đầu tiên thực sự mở ra thế giới âm nhạc lãng mạn, với ngôn ngữ đầy cảm xúc và chiều sâu tâm hồn chính là Franz Schubert.

Ông Franz Theodor là hiệu trưởng của một trường tại giáo xứ địa phương, bà Elisabeth là một người làm công việc nội trợ. Họ kết hôn và sống với nhau tại Himmelpfortgrund, ngoại ô Vienna. Họ có với nhau 14 người con, nhưng chỉ có năm đứa trẻ có may mắn sống sót. Trong đó bốn đứa đầu là con trai Ignaz, Karl, Ferdinand, Franz và cô con gái út Maria Theresa. Cả gia đình đều yêu thích âm nhạc, và cậu con trai thứ tư Franz, sinh ngày 31/1/1797 tỏ ra có năng khiếu vượt trội. Được cha và anh trai Ignaz dạy những bài học âm nhạc đầu tiên nhưng Franz đã nhanh chóng vượt xa họ. Ignaz nhớ lại: “Tôi đã rất kinh ngạc khi Franz nói với tôi, chỉ vài tháng sau khi chúng tôi bắt đầu, rằng cậu không cần tôi dạy thêm gì nữa và từ nay sẽ tự đi con đường riêng của mình. Và thực sự, tiến bộ của cậu ấy trong một thời gian ngắn là quá đỗi phi thường đến mức tôi buộc phải thừa nhận rằng đó là một bậc thầy, người đã vượt xa và bỏ lại tôi phía sau, đến mức tôi tuyệt vọng vì không thể nào theo kịp”. Gia đình Schubert có một nhóm tứ tấu dây và Franz đảm nhiệm bè viola nhưng cậu cũng có thể chơi thành thạo piano và violin. Các tứ tấu dây đầu tiên mà Schubert viết là để chơi trong những dịp như thế này. Ngoài ra, cậu còn hát giọng soprano tại dàn hợp xướng địa phương cũng như theo học organ tại nhà thờ với Michael Holzer, người đã nhận xét: “Nếu tôi muốn dạy cậu bé điều gì mới, nó đã biết rồi. Vì vậy, tôi không dạy kèm cậu ấy mà chỉ nói chuyện và quan sát với sự ngạc nhiên lặng lẽ”.

Tài năng của Franz đã lọt vào mắt xanh của Antonio Salieri, lúc này là một trong những nhân vật uy tín nhất tại Vienna, người ca ngợi cậu là “thiên tài âm nhạc”. Tháng 11/1808, cậu giành được học bổng ở Stadtkonvikt (Chủng viện Hoàng gia) và tại đây, Franz lần đầu được tiếp xúc với âm nhạc của Haydn, Mozart và Beethoven, người mà cậu vô cùng ngưỡng mộ. Cùng với những lần ít ỏi ghé thăm nhà hát opera, Franz đã có được nền móng tốt đẹp để hướng tới những điều lớn lao hơn. Tại Stadtkonvikt, Franz đã gặp Joseph von Spaun, một nhà quý tộc lớn hơn cậu 8 tuổi. Họ trở thành những người bạn của nhau trong suốt cuộc đời. Spaun đã hỗ trợ tài chính cho người bạn của mình rất nhiều, giúp nhà soạn nhạc theo học sâu hơn về opera và sân khấu. Salieri cũng dành cho Franz những bài học riêng về lý thuyết âm nhạc và sáng tác. Theo Ferdinand, anh trai của Franz, các tác phẩm đầu tiên của cậu là một fantasy dành cho piano 4 tay. Năm 1811, Franz sáng tác bài hát đầu tiên của mình, Hagars Klage (Lời than vãn của Hagar), mà theo Spaun, nguồn cảm hứng đến việc “muốn hiện đại hoá” các ca khúc của Johann Rudolf Zumsteeg (nhà soạn nhạc Đức thời kỳ Cổ điển). Đây chính là xuất phát điểm cho hơn 600 ca khúc của nhà soạn nhạc với vô vàn những tuyệt tác. Thỉnh thoảng, Franz cũng được phép chỉ huy dàn nhạc của Stadtkonvikt. Những tác phẩm dành cho dàn nhạc đầu tiên của Franz đã được biểu diễn tại chính nơi đây. Trong những năm tháng học tại Stadtkonvikt, nhà soạn nhạc trẻ đã sáng tác khá nhiều tác phẩm, đáng chú ý có hợp xướng tôn giáo Salve Regina, cantata Wer ist groß? (Ai là người vĩ đại?) và bản Giao hưởng số 1.

Rời Stadtkonvikt vào cuối năm 1813, Schubert theo học sư phạm tại St. Anna Normal. Năm 1814, anh đến làm việc tại trường của cha mình và vẫn gặp gỡ với Salieri, người đã cung cấp kiến thức âm nhạc cho Schubert nhiều hơn bất cứ ai. Schubert chỉ ngừng học với Salieri vào năm 1817. Với vóc dáng nhỏ bé, chỉ cao 5 feet (khoảng hơn 1m50), bị bạn bè trêu chọc bằng biệt danh Schwammerl (nấm nhỏ), Schubert không đủ điều kiện tham gia nghĩa vụ quân sự. Cũng trong năm 1814, Schubert đem lòng yêu soprano trẻ Therese Grob và dành tặng cô một số sáng tác của mình. Grob cũng là ca sĩ chính trong buổi ra mắt bản Mass số 1 của Schubert tại Nhà thờ Lichtental, Vienna vào ngày 25/12/1814. Schubert đã muốn kết hôn với Grob nhưng theo điều luật tại thời điểm đó, chú rể phải chứng minh rằng anh ta đủ khả năng tài chính để nuôi gia đình nên đã thất bại. Schubert đã gửi cho Heinrich, anh trai Grob một tập bài hát và gia đình họ vẫn lưu giữ chúng và công bố vào thế kỷ 20. Năm 1815 đánh dấu một thời kỳ sáng tác sung sức của nhà soạn nhạc. Schubert hoàn thành bản Giao hưởng số ba, 9 tác phẩm cho nhà thờ, một số dành cho dàn nhạc và khoảng 140 ca khúc. Chúng là sản phẩm của một thiên tài trẻ tuổi, vẫn còn chút rụt rè nhưng đã thể hiện phong cách, sự độc đáo và trí tưởng tượng phong phú. Anh cũng kết giao với những người bạn rất thân thiết Anselm Hüttenbrenner và Franz von Schober. Tình hình tài chính luôn là nỗi lo âu suốt đời của Schubert. Với công việc tại trường học và dạy nhạc thêm, anh chỉ đủ trang trải những nhu cầu cơ bản nhất và hoàn toàn không có khả năng chi tiêu xa xỉ. Spaun hiểu rõ bạn mình không hài lòng với công việc hiện tại và lo lắng cho sự phát triển của Schubert nên tháng 6/1816, sau khi chuyển đến ngôi nhà mới ở vùng ngoại ô Landstraße, việc đầu tiên mà ông làm là mời Schubert đến chơi. Đây là lần đầu tiên Schubert xa gia đình hoặc trường học.

Nhưng thay đổi đáng kể đến Schubert diễn ra vào năm 1816 khi Schober xuất thân từ một gia đình giàu có mời Schubert đến ở cùng gia đình mình. Lời đề nghị này diễn ra rất đúng lúc khi nhà soạn nhạc vừa mới bị từ chối công việc Kapellmeister (phụ trách âm nhạc) tại Laibach và không còn muốn ở lại trường của cha mình nữa. Cuối năm, ông đến sinh sống cùng Schober. Schubert dành hết tâm huyết cho âm nhạc: “Tôi sáng tác mỗi sáng, và khi một bản nhạc hoàn thành, tôi bắt đầu một bản nhạc khác”. Phần lớn thời gian này được ông tập trung vào các tác phẩm dành cho dàn nhạc, hợp xướng và một số ca khúc. Phần lớn chúng không được xuất bản, bản thảo và các bản chép tay được lưu hành giữa bạn bè và số ít người hâm mộ. Trong số này, cantata Prometheus, được sáng tác theo đề nghị của Heinrich Joseph Watteroth đã mang lại cho Schubert một khoản thù lao: “Lần đầu tiên mà tôi sáng tác để lấy tiền”. Ngoài ra, các giao hưởng số 4 “Bi thương” và số 5, tươi sáng trong trẻo, cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt từ Mozart là những tác phẩm rất đáng chú ý. Đầu năm 1817, dưới sự giới thiệu của Schober, Schubert làm quen với baritone tài năng Johann Michael Vogl, người hơn mình 20 tuổi. Schubert đã cung cấp cho Vogl rất nhiều ca khúc và baritone này đã trở thành người ủng hộ chính cho âm nhạc của Schubert tại Vienna. Những người bạn thân thiết này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, quảng bá và bảo tồn những tác phẩm của Schubert sau khi nhà soạn nhạc qua đời. Một vài tác phẩm của Schubert như overture đã được trình diễn, mang lại cho nhà soạn nhạc chút danh tiếng tại Vienna.

Mùa hè năm 1818, Schubert được thuê làm giáo viên dạy nhạc cho hai cô con gái Maria và Karoline của bá tước Johann Karl Esterházy tại Zselíz (nay là Želiezovce, Slovakia. Đây chính là dòng họ Esterházy mà Haydn đã phục vụ trong nhiều năm. Mức đãi ngộ khá tốt cộng thêm công việc nhẹ nhàng khiến Schubert có nhiều thời gian để sáng tác. Ông đã dành tặng hai chị em bản Marches Militaire, ngoài ra là nhiều tác phẩm piano 4 tay hoặc 2 piano để họ biểu diễn. Có lẽ đó là những ngày hạnh phúc nhất của Schubert, vì ông đã viết cho một người bạn: “Tôi sống và sáng tác như một vị thần”. Trở về Vienna, đầu những năm 1820, Schubert trở thành thành viên của một nhóm bạn thân thiết, bao gồm nhiều nghệ sĩ. Họ thường tụ họp, giao lưu, biểu diễn âm nhạc tại một căn hộ riêng tư và được gọi là Schubertiade (Những buổi tối Schubert). Tuy nhiên, hoạt động này diễn ra không được lâu. Sau Cách mạng Pháp và Chiến tranh Napoléon, cảnh sát Áo luôn cảnh giác với các hoạt động cách mạng và nghi ngờ bất kỳ cuộc tụ tập nào của thanh niên hoặc sinh viên. Schubert và bốn người bạn của mình đã bị bắt giữ. Trong đó, Johann Senn nhận án tù hơn một năm và bị trục xuất khỏi Vienna. Những người còn lại, bao gồm cả Schubert bị “khiển trách nghiêm khắc vì công kích các quan chức bằng ngôn ngữ xúc phạm và phỉ báng”. Sau này Schubert và Senn không còn gặp lại nhau nữa nhưng ông đã phổ nhạc vài bài thơ của người bạn mình như Selige Welt (Thế giới hạnh phúc) và Schwanengesang (Bài ca thiên nga).

Hai vở opera của ông là Die Zwillingsbrüder (Hai anh em sinh đôi) và Die Zauberharfe (Đàn harp thần kỳ) được biểu diễn ở Vienna vào năm 1821. Cho đến trước thời điểm này, ngoài một số tác phẩm dành cho nhà thờ, còn lại đều do các dàn nhạc nghiệp dư biểu diễn. Điều đó cho thấy, Schubert đã tạo được một ảnh hưởng lớn hơn, hướng đến công chúng rộng rãi hơn. Tuy nhiên, các nhà xuất bản vẫn dè dặt, chỉ có Anton Diabelli chấp nhận một số tác phẩm, chủ yếu là các bài hát, điều mang lại cho nhà soạn nhạc số tiền nhuận bút ít ỏi. Tình hình chỉ được cải thiện phần nào vào tháng 3/1821 khi Vogl hát Erlkönig (Chúa rừng) đã giành được sự đón nhận nhiệt tình của khán giả. Vui mừng trước việc hai vở opera của mình được ra mắt, Schubert tập trung nhiều hơn vào sân khấu, lên đến khoảng 20 dự án. Nhưng tất cả chúng đều thất bại, bị các nhà hát từ chối với lý do chất lượng không đạt yêu cầu cũng như việc opera Ý với cái tên nổi lên là Gioachino Rossini đã bắt đầu thống trị. Mặc dù vậy, ở nhiều thể loại khác, Schubert lại trở nên nổi tiếng. Năm 1821, ông đã trở thành thành viên của Gesellschaft der Musikfreunde in Wien (Hiệp hội những người yêu âm nhạc tại Vienna) sau lần bị từ chối trước đó vào đầu năm 1818. Dưới sự hỗ trợ của tổ chức này, nhiều tác phẩm của ông đã đến với khán giả Vienna. Các sáng tác của Schubert trong giai đoạn này cho thấy sự trưởng thành rõ rệt về phong cách. Ta có thể nhắc đến bản Giao hưởng số 8 “Bỏ dở”, được ông hoàn thành hai chương và một vài ô nhịp của chương ba báo trước một âm thanh Lãng mạn mới trong việc sử dụng dàn nhạc, cung cấp một ví dụ tuyệt vời về khả năng viết nhạc cụ trữ tình của Schubert và truyền tải nhiều cũng bậc cảm xúc đáng kinh ngạc. Điều đáng ngạc nhiên là không một người bạn nào của Schubert có được thông tin về bản nhạc này. Một tác phẩm đặc biệt về mặt cấu trúc là Fantasy Wanderer (Người lang thang). Tại thời điểm ra đời, nó mang một hình thức “kỳ ảo” như đến từ một nơi khác, phát triển một ý tưởng (dựa trên ca khúc Der Wanderer) để tạo ra một tác phẩm mới gồm 4 chương chơi không ngừng nghỉ, được liên kết bằng một chủ đề “tuyên ngôn” thống nhất xuyên suốt, cho thấy một Schubert đầy lãng mạn và mang trong mình tư tưởng tiến bộ mang tầm thời đại. Một tác phẩm khác rất đáng chủ ý là tập bài hát Die schöne Müllerin (Con gái xinh đẹp của ông chủ cối xay), gồm 20 ca khúc dựa trên thơ của Wilhelm Müller. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật trữ tình đỉnh cao của Schubert. Với Die schöne Müllerin, Schubert đã hoàn thiện thể loại tập bài hát (và có thể đã tạo ra ví dụ tuyệt vời nhất nó trong lần sáng tác đầu tiên của ông). Schubert cũng tạo ra một điều kỳ diệu về sự hợp tác. Nhà thơ và nhà soạn nhạc, lời thơ và âm nhạc, ca sĩ và nghệ sĩ piano có vai trò cân bằng, họ thông báo cho nhau, hoàn thiện nhau, người này tồn tại để người kia có ý nghĩa.

Năm 1824 đánh dấu giai đoạn khó khăn trong cuộc đời Schubert. Ông đã được chẩn đoán mắc bệnh giang mai và sức khoẻ suy yếu rõ rệt. Nội dung bức thư ông gửi cho người bạn Leopold Kupelwieser vào ngày 31/3/1824 cho thấy rõ sự đau buồn của Schubert: “Tôi cảm thấy mình là sinh vật bất hạnh và khốn khổ nhất thế giới. Bạn hình dung một người mà sức khoẻ không bao giờ trở nên tốt như xưa và người trong những cơn tuyệt vọng liên tục khiến mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn thay vì tốt đẹp lên. Tôi nói rằng hãy tưởng tượng một người mà những hi vọng rực rỡ nhất đã không còn, một người mà tình yêu và tình bạn chẳng còn gì ngoài sự cay đắng. Một người mà nguồn cảm hứng sáng tạo (vì tất cả những gì đẹp đẽ) có nguy cơ thất bại và sau đó tự hỏi bản thân xem đó có phải là sự bất hạnh và khốn khổ. Sự bình yên trong tôi đã biến mất, trái tim tôi đau đớn, tôi sẽ không bao giờ tìm thấy nó nữa. Bây giờ tôi có thể hát mỗi ngày vì mỗi tối khi tôi đi ngủ, tôi hi vọng mình sẽ không bao giờ tỉnh lại và mỗi sáng tôi lại hồi tưởng về những nỗi đau của ngày hôm qua”. Tuy nhiên, Schubert vẫn thể hiện sức sáng tạo vô song của mình. Nhiều tác phẩm nổi bật được hoàn thành vào giai đoạn này như các tứ tấu dây số 13, 14 và bản octet dành cho dàn dây và các nhạc cụ hơi. Ông trở về dạy học tại gia đình Esterházy và sức khoẻ đã dần hồi phục.

Những khó khăn trước đó dường như đã được bù đắp vào năm 1825. Nhiều tác phẩm của Schubert được xuất bản, làm giảm đi đáng kể áp lực tài chính. Mùa hè năm đó, Schubert có kỳ nghỉ đáng nhớ tại Thượng Áo, nơi ông được chào đón nồng nhiệt. Đây có lẽ là khoảng thời gian thanh bình và thoải mái cuối cùng của nhà soạn nhạc. Tại thị trấn Gastein, khu nghỉ mát nổi tiếng với những suối tắm khoáng có từ lâu đời, nằm trên dãy Alps, Schubert đã hoàn thành bản Sonata piano số 17, một trong ba bản hiếm hoi của ông được xuất bản khi nhà soạn nhạc còn sống. Bản Giao hưởng số 9 cũng được phác thảo tại đây. Từ năm 1826 cho đến khi Schubert qua đời, hiếm khi nhà soạn nhạc rời khỏi Vienna, ngoại trừ một chuyến đi ngắn tới Graz vào tháng 9/1827. Chưa bao giờ Schubert ngừng sáng tác. Khoảng thời gian này cho thấy nhà soạn nhạc bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc và chút gì đó u buồn hơn. Chắc chắn sự suy yếu về thể chất cũng như sự qua đời của Beethoven vào ngày 26/3/1827, mà ông là người chứng kiến, đã có tác động to lớn đến Schubert. Trước đó, Schubert dường như chỉ gặp người mà ông vô cùng kính trọng một lần duy nhất, khi sức khoẻ của Beethoven đã rất yếu. Beethoven đã được tiếp xúc với một số tác phẩm của Schubert, chủ yếu là các ca khúc, đã ca ngợi tài năng của ông: “Thật sự, trong Schubert có một tia sáng thần thánh!”. Theo Anton Schindler, Beethoven muốn nghiên cứu kỹ lưỡng hơn các vở opera và sonata piano của Schubert nhưng điều kiện sức khoẻ đã ngăn cản bậc thầy thực hiện điều này. Beethoven hối tiếc vì đã không được quen biết Schubert sớm hơn và đánh giá: “Schubert sẽ gây ra một chấn động lớn trên thế giới”.

Kể từ thời điểm này, hàng loạt kiệt tác của Schubert đã ra đời. Đó là Fantasia giọng Pha thứ cho piano 4 tay, được cho là nhà soạn nhạc dành tặng cô học trò Caroline Esterházy, người mà ông đã đem lòng yêu, hai tập Impromptu, Moments musicaux (Những khoảnh khắc âm nhạc), tập bài hát Winterreise (Hành trình mùa đông) dựa theo thơ của Wilhelm Müller, Giao hưởng số 9, 3 bản sonata piano cuối cùng hay ngũ tấu đàn dây dành cho 2 violin, viola và 2 cello. Benjamin Britten đã thốt lên: “Mười tám tháng giàu có và hiệu quả nhất trong lịch sử âm nhạc” để miêu tả quãng thời gian thần kỳ này của Schubert. Ngày 26/3/1828, nhân kỷ niệm một năm ngày mất của Beethoven, dưới sự hỗ trợ của những người bạn, lần đầu tiên trong đời, Schubert mới có được chương trình hoà nhạc với các tác phẩm của riêng mình. Đêm diễn đã thành công cả về mặt nghệ thuật và tài chính nhưng lu mờ nhanh chóng ngay sau đó với sự ra mắt của Niccolò Paganini tại Vienna. Dù sao thì với khoản tiền kiếm được, lần đầu tiên trong đời Schubert có được cây đàn piano của riêng mình.

Đầu tháng 11/1828, sức khoẻ Schubert suy giảm nghiêm trọng. Ông không ăn được thức ăn đặc, đau đầu, sốt cao, sưng khớp và nôn mửa. Từ lâu, Schubert luôn phải vật lộn với căn bệnh thương hàn và do chữa bệnh bằng thuỷ ngân (dẫn đến bị nhiễm độc) nên bệnh tình ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Trước đó, ông đã gắng gượng tới viếng mộ Haydn ở Eisenstadt. Trong bức thư cuối cùng Schubert viết cho Schober ngày 12/11, ông thể hiện sự đau khổ: “Tôi đang ốm. Mười một ngày nay tôi hầu như không ăn uống được gì. Tôi đi không vững nữa”. Nhóm tứ tấu dây của Karl Holz, người bạn của Schubert đã đến biểu diễn bên giường bệnh. Tác phẩm cuối cùng mà Schubert muốn nghe là Tứ tấu số 14 của Beethoven. Holz thốt lên: “Vị vua của hoà âm đã gửi đến vị vua của ca khúc lời tiễn biệt thân ái cho cuộc hành trình cuối cùng”. Schubert đã qua đời tại Vienna, trong căn hộ của anh trai Ferdinand vào ngày 19/11/1828, để lại nhiều ý tưởng âm nhạc còn dang dở. Lúc này nhà soạn nhạc mới 31 tuổi. Ở độ tuổi này, Johann Sebastian Bach và Haydn chưa có tác phẩm nổi tiếng nào còn Beethoven thì chỉ vừa mới hoàn thành bản Giao hưởng số 1. Theo nguyện vọng của Schubert, di hài ông được chôn cất tại nghĩa trang Währing, bên cạnh mộ của Beethoven. Vào năm 1888, hai ngôi mộ này được chuyển đến nghĩa trang Zentralfriedhof bên cạnh Johann Strauss và Brahms. Bia mộ Schubert, được người bạn, nhà thơ Franz Grillparzer đề: “Nghệ thuật âm nhạc đã chôn vùi nơi đây một kho báu quý giá, nhưng còn đó những hy vọng rực rỡ hơn nhiều”. Năm 1925, Währing được chuyển đổi thành công viên Schubert, vị trí ngôi mộ ông trước đó được thay thế bằng bức tượng bán thân nhà soạn nhạc.

András Schiff nói: “Schubert sống một cuộc đời rất ngắn ngủi, nhưng nó hết sức cô đọng. Trong 31 năm, ông đã sống nhiều hơn những gì người khác có thể trải qua trong cả trăm năm. Việc suy đoán rằng ông sẽ còn viết được gì nếu sống thêm 50 năm là điều không cần thiết, cũng giống như với Mozart vậy: họ là hai thiên tài bẩm sinh của âm nhạc”. Trong cuộc đời ngắn ngủi đó, Schubert đã để lại tới hơn 1.500 tác phẩm ở rất nhiều thể loại, trong đó với số lượng lên đến hơn 600 bài hát, nhà soạn nhạc hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu vua của nghệ thuật lied (ca khúc trong tiếng Đức). Ông không phải người sáng tạo ra thể loại này nhưng chắc chắn là nhân vật biến nó thành một hình thức nghệ thuật mới và khai phá toàn bộ tiềm năng của nó như Antonín Dvořák đánh giá: “Schubert đã tạo ra một kỷ nguyên mới với lied… Tất cả các nhà soạn nhạc khác đã đi theo bước chân ông”. Schubert là bậc thầy vô song về vẻ đẹp trữ tình, hàng loạt giai điệu với cảm xúc mãnh liệt và sự ám ảnh kỳ diệu tuôn trào trong những tác phẩm của ông. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng ở Schubert thiếu đi sự kịch tính và tính trí tuệ sâu sắc. 21 sonata piano của ông là minh chứng rõ rệt nhất cho điều này. Nhiều bản có độ dài bất thường được nhà âm nhạc học Jeremy Siepmann tổng kết: “Schubert có thể được xem là nhà soạn nhạc piano vĩ đại đầu tiên biến yếu tố thời lượng thành một công cụ biểu cảm và kịch tính chủ đạo”. Theo nhà soạn nhạc Ernst Křenek, ở đó, trong bất kỳ tác phẩm nào, đều tồn tại một khối lượng lớn sự tinh tế và Schubert “không hề hài lòng với việc đưa những ý tưởng quyến rũ của mình vào những khuôn mẫu thông thường; ngược lại, ông là một nghệ sĩ tư duy với niềm đam mê thử nghiệm mãnh liệt”. Những thử nghiệm mãnh liệt này còn được bộc lộ qua các tác phẩm thính phòng của nhà soạn nhạc. Điển hình như Fantasy Wanderer với tham vọng tạo ra một tác phẩm bốn chương nhạc và mỗi chương nhạc này lại đóng vai trò là một phần trong hình thức sonata cổ điển, biến tác phẩm thành một chương nhạc duy nhất. Đây chắc chắn là bản nhạc đã phá vỡ các quy tắc cổ điển. Ngoài ra còn có thể kể đến Ngũ tấu “Die Forelle” (Cá hồi) dành cho piano, violin, viola, cello và double bass, một đội hình chưa từng xuất hiện trong lịch sử. Hoặc tương tự là octet sáu chương dành cho clarinet, bassoon, horn, hai violin, viola, cello và double bass. Và bản Giao hưởng số 9 của Schubert, với thời lượng dài, truyền tải nhiều ý tưởng âm nhạc, nhiều thay đổi trong chuyển giọng và nhịp điệu là sự báo trước cho Anton Bruckner và Gustav Mahler.

Việc hoàn thiện bộ sưu tập các sáng tác của Schubert gặp phải khó khăn rất lớn. Đương thời, sự tồn tại của chúng không được biết đến rộng rãi, nằm trong tủ, bàn làm việc của những người bạn, người hâm mộ và các hãng xuất bản. Trong suốt thế kỷ 19, đã có rất nhiều người dành công sức để hệ thống hoá các tác phẩm của Schubert. Chỉ sau khi Schubert qua đời nhiều năm, sự vĩ đại của ông mới được công nhận xứng đáng. Schumann tôn vinh: “Việc đoán xem Schubert có thể còn đạt được những thành tựu gì nữa là điều vô nghĩa. Ông đã làm đủ rồi; và hãy vinh danh những ai đã nỗ lực và cống hiến như ông ấy”. Còn Franz Liszt thì đã chuyển soạn khoảng 60 tác phẩm của Schubert cho piano độc tấu hoặc piano với dàn nhạc và ca ngợi Schubert là “nhà soạn nhạc giàu chất thơ nhất trong tất cả các nhà soạn nhạc”. Dù phần lớn cuộc đời sống trong nghèo khó và thiếu thốn, Schubert chưa bao giờ ngừng sáng tạo âm nhạc, như bản thân Schubert từng thú nhận với một người bạn: “Nhà nước nên chu cấp cho tôi. Tôi sinh ra trên đời này không vì mục đích nào khác ngoài việc sáng tác”. Còn Siepmann thì nhận xét: “Schubert hẳn là cơn ác mộng đối với nhà quảng cáo. Có lẽ chưa bao giờ một nhà soạn nhạc vĩ đại nào lại thờ ơ một cách cao quý với sự nghiệp hay danh tiếng đến thế”. Ông không tìm kiếm vinh quang hay sự tán thưởng, mà chỉ lặng lẽ ghi lại những gì mình cảm nhận: nỗi buồn, niềm vui, những ước mơ và sự cô đơn. Sự ngọt ngào trong đau khổ của Schubert đã thổi vào nền âm nhạc đầu thế kỷ 19 những ngọn gió nhẹ trong lành, tươi mát mãi cho đến tận bây giờ.

Cobeo