Tác giả: Franz Schubert.
Tác phẩm: Giao hưởng số 8 giọng Si thứ “Bỏ dở”, D. 759
Thời gian sáng tác: Được hoàn thành vào ngày 30/10/1822.
Công diễn lần đầu: Ngày17/12/1865 tại Gesellschaft der Musikfreunde, Vienna dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Johann Herbeck.
Độ dài: Khoảng 30 phút.
Tác phẩm có 2 chương:
Chương I – Allegro moderato
Chương II – Andante con moto
Thành phần dàn nhạc: 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 2 horn, 2 trumpet, 3 trombone, timpani và dàn dây.

Vào mùa thu năm 1822, Schubert bắt đầu một bản giao hưởng mới. Ông nhanh chóng hoàn thành hai chương đầu và bắt đầu sáng tác chương thứ ba scherzo. Và rồi ông dừng lại. Năm sau Schubert gửi bản thảo này cho người bạn Anselm Hüttenbrenner của mình, như một cử chỉ đánh giá cao việc Schubert đã được trao bằng danh dự của Hiệp hội âm nhạc Styrian, Graz, Áo mà Anselm là thành viên. Schubert dường như đã quên mất bản giao hưởng. Ông không bao giờ đề cập đến nó nữa. Ban giao hưởng chưa bao giờ được biểu diễn trong suốt cuộc đời ông. Bản thảo nằm trên những giá sách đầy bụi trong suốt bốn thập kỷ. Josef, em trai của Aselm cho biết: “Anselm sở hữu một kho báu, dưới dạng Bản giao hưởng giọng Si thứ của Schubert. Mà chúng tôi xếp ngang hàng với bản giao hưởng vĩ đại giọng Đô trưởng của anh ấy… và với tất cả các bản giao hưởng của Beethoven – ngoại trừ nó đang dang dở. Schubert đã nhờ tôi chuyển cho Anselm để cảm ơn anh ấy đã gửi trao bằng danh dự của Hiệp hội âm nhạc Styrian, Graz”. Hai anh em hiểu được tầm quan trọng của tác phẩm (Anselm thậm chí đã chuyển soạn nó cho đàn piano bốn tay), mặc dù họ cho rằng tình trạng chưa hoàn thiện của tác phẩm đã hạn chế giá trị của nó đối với thế giới.

Nhạc trưởng Johann Herbeck đã đến thăm Anselm vào năm 1865 để tận mắt chiêm ngưỡng kho báu (với tin đồn đã lan truyền trong nhiều năm) và thực hiện một thoả thuận trao đổi với Anselm để đổi lấy việc được biểu diễn bản giao hưởng (thoả thuận liên quan đến việc biểu diễn một overture do Anselm sáng tác trong cùng một chương trình). Buổi ra mắt muộn màng của bản giao hưởng hai chương vào cuối năm đó đã khiến khán giả Vienna kinh ngạc và thích thú. Eduard Hanslick, nhà phê bình hàng đầu của thành phố, trước đây đã cảnh báo về “sự sùng bái và tôn thờ Schubert thái quá đối với các di cảo của Schubert”, nhưng ông đã ca ngợi tác phẩm này và màn trình diễn của nó: “kích thích sự nhiệt tình phi thường” và “mang lại sức sống mới cho các phòng hòa nhạc của chúng tôi”. Theo Hanslick, sau khi chỉ nghe một vài ô nhịp “mọi đứa trẻ đều nhận ra nhà soạn nhạc, và cái tên “Schubert” được khán giả thì thầm… mọi trái tim đều hân hoan, như thể, sau một thời gian dài xa cách, chính nhà soạn nhạc đang ở giữa chúng ta. Toàn bộ chương nhạc là một dòng chảy du dương trong vắt đến nỗi, bất chấp sức mạnh và thiên tài của nó, người ta có thể nhìn thấy từng viên sỏi ở dưới đáy. Và cùng một hơi ấm, cùng một ánh mặt trời tươi sáng, tràn đầy sức sống ở khắp mọi nơi”.

Vậy tại sao Schubert không hoàn thành được bản giao hưởng số 8 giọng Si thứ này? Đây là một câu hỏi lớn mà qua gần 200 năm nay, vẫn chưa có câu trả lời. Mặc dù đã có một số suy đoán thông minh và khá hợp lý nhưng kết quả vẫn là con số không. Trong nhiều năm, những người say mê nhạc cổ điển vẫn kiên trì hi vọng rằng các chương còn sót lại đang nằm đâu đó tại một căn gác của Vienna. Nhưng phần lớn đều đi đến kết luận rằng, Schubert không có ý định chủ tâm viết một bản giao hưởng chỉ với hai chương nhạc, một sự cách tân táo bạo như vậy có lẽ không phù hợp lắm với phong cách sáng tác của Schubert.

Toàn bộ tổng phổ, bản viết tay của Schubert được đề ngày 30/10/1822 với chữ ký của nhà soạn nhạc, bao gồm 2 chương nhạc. Và ở mặt sau của trang cuối cùng, là 9 ô nhịp của chương scherzo và 4 trang bỏ trống. Vào năm 1960, Christa Landon phát hiện ra một trang nhạc, là trang lẽ ra phải ở chỗ ngay trước các trang bị bỏ trống, ghi lại các ô nhịp từ 10 đến 20. Qua bản thảo, có thể thấy được Schubert đã lên kế hoạch cho toàn bộ chương scherzo và phần đầu của một trio. Một số giả thuyết đã đưa ra về việc Schubert không thể hoàn thành bản giao hưởng của mình.

Từ tháng 2/1818 đến tháng 11/1822, ông bắt đầu và dành ra ba – có thể là bốn – các bản giao hưởng khác nhau. Cuối năm 1822, Schubert mắc bệnh giang mai và bắt đầu bị trầm cảm và sức khỏe suy giảm rõ rệt. Ông cũng gần như bị tê liệt với nhận thức ngày càng tăng về các giao hưởng đặc biệt của Beethoven – âm nhạc đã thổi bùng những con đường mới trong lĩnh vực mà Schubert cảm thấy ít yên tâm nhất. Đầu những năm 1820, cũng là giai đoạn mà Schubert đã dành nhiều tâm sức cho các dự án opera. Ông và nhà thơ Franz von Schober đặt nhiều hy vọng vào sự hợp tác của họ về Alfonso và Estrella, nhưng cuối cùng cũng tan thành mây khói khi tác phẩm không được đón nhận ở Vienna do làn sóng Rossini mới mẻ đã làm lu mờ các vở opera Đức-Áo. Cuộc đời Schubert còn kéo dài thêm sáu năm, nhưng chưa tìm thấy bằng chứng là ông đã cố gắng hoàn thành nó.

Bất chấp hình dáng kỳ lạ của bản giao hưởng, hai chương nhạc có nhịp độ vừa phải thay vì bốn chương nhạc như thông thường ở các nhịp độ khác nhau – bản giao hưởng “Bỏ dở”, cái tên được hậu thế gán ghép cho nó, là một trải nghiệm âm nhạc và cảm xúc hoàn toàn thỏa mãn. “Bỏ dở” được xây dựng dựa trên một số giai điệu dễ hát nhất trong âm nhạc cổ điển, nhưng Schubert có thể biến chúng thành âm nhạc kịch tính với đầy rẫy những sự hiểm trở, tính hoành tráng và khoảng lặng kỳ lạ. Khả năng kiểm soát màu sắc của dàn nhạc của Schubert cũng rất đáng chú ý ở đây: Ba trombone mang lại cho âm nhạc sức mạnh khác thường, nhưng ấn tượng hơn nữa là Schubert đã tạo ra nhiều sắc thái đa dạng của nhạc cụ thông qua việc xử lý tinh tế các kèn gỗ độc tấu. Hai chương nhạc được hoàn thành này đã báo trước một âm thanh Lãng mạn mới trong việc sử dụng dàn nhạc, cung cấp một ví dụ tuyệt vời về khả năng viết nhạc cụ trữ tình của Schubert và truyền tải một loạt cảm xúc đáng chú ý. Cũng đáng chú ý là sự thoải mái trong ngôn ngữ hoà thanh của Schubert. Bản giao hưởng lướt nhẹ nhàng giữa các giọng, được chuyển dịch một cách tinh vi. Và qua cả hai chương nhạc đều toát lên vẻ đẹp ám ảnh, u ám.

Chương đầu mở ra với một khởi đầu bí ẩn, trầm ngâm trong bè trầm qua đoạn giới thiệu 8 ô nhịp gồm tiếng cello và double bass, được ghi chú pianissimo. Chủ đề chính xuất hiện ở giọng chủ Si thứ, là một bản song ca sâu lắng trên oboe và clarinet trong ánh sáng lung linh các nốt móc kép của dàn dây. Chủ đề thứ hai nổi tiếng xuất hiện trên bè cello ở giọng Son trưởng, sau đó được chuyển tiếp cho violin. Nhưng rồi hoàn toàn bất ngờ: thay vì là một sự phát triển dựa trên hai chủ đề chính, nhưng Schubert đã hoàn toàn bỏ qua và nhà soạn nhạc lại tập trung vào phần nhạc giới thiệu bí ẩn đầu tiên, nhưng ở giọng Mi thứ. Âm nhạc bùng nổ với sự cuồng nhiệt bất ngờ, và những gì tưởng như là một bản giao hưởng “trữ tình” bỗng trở nên rất kịch tính. Và rồi lại một bất ngờ nho nhỏ nữa, Schubert “chợt nhớ ra” các chủ đề của phần trình bày và đưa chúng vào phần tái hiện nhưng chủ đề hai được chuyển sang giọng Si trưởng. Chương nhạc khép lại với phần coda được dựa trên phần âm trầm giới thiệu ở giọng Si thứ. Mạnh mẽ, trữ tình, kịch tính, đẹp đẽ – và hoàn toàn độc đáo. Theo phác thảo ban đầu, Schubert định để chương nhạc kết thúc ở giọng Si trưởng, nhưng có lẽ như vậy sẽ khiến tâm trạng bị phá vỡ và ông đã chọn một phương án tuyệt vời hơn – để mọi thứ chìm vào trong bóng tối.

Chương II cũng có tốc độ vừa phải, được viết ở giọng bất ngờ Mi trưởng. Chủ đề thứ nhất mở đầu ngọt ngào trên bè violin. Nhưng bầu không khí du dương này nhanh chóng bị chủ đề thứ hai che khuất, được bắt đầu bằng tiếng clarinet độc tấu hùng hồn bay cao lướt qua lướt qua các hợp âm chuyển dịch đảo phách, chuyển sang giọng Đô thăng thứ. Cũng giống như chương I, ở đây cũng là sự kết hợp của sự mạnh mẽ đầy kịch tính với chất trữ tình ám ảnh nhất. Dường như chương nhạc không được viết ở hình thức sonata mà gần giống với sonatina hơn vì phần phát triển rất ngắn gọn, hầu như không thể nhận ra. Âm nhạc gần như tĩnh lặng hoàn toàn, chỉ có những tiếng horn chơi quãng 8 và rồi Schubert đưa chúng ta đến với phần tái hiện đầy đủ. Một lần nữa Schubert đẩy chương nhạc vào sự hỗn loạn của cảm xúc. Một coda êm đềm mang đến sự thanh thản, nhưng khắc sâu sự cam chịu và mơ hồ.

Và chính tại đây, sau khi chia tay chương II tuyệt vời này, mọi thứ đã dừng lại. Dựa theo những gì còn sót lại, Schubert đã có một kế hoạch đầy hứa hẹn cho chương scherzo – nó bắt đầu với một chủ đề mạnh mẽ, được xuất hiện trên toàn bộ dàn nhạc trong quãng 8. Chắc chắn nó sẽ là một sự nối tiếp xứng đáng nếu như Schubert tinh chế thứ vật liệu thô ráp này thành những viên ngọc tinh xảo như ông đã làm đối với hai chương trước.

Đã có nhiều nỗ lực của các thế hệ đi sau nhằm hoàn thiện 2 chương cuối bản giao hưởng “Bở dở” này. Năm 1928, Công ty Columbia Gramophone thậm chí còn cân nhắc tổ chức một cuộc thi để tìm ra người có thể hoàn thành tốt nhất tác phẩm này. Nhưng cũng giống như bản giao hưởng số 9 của Bruckner ra đời hơn 70 năm sau đó, ngày nay chúng hầu như luôn được biểu diễn ở dạng nguyên bản với những gì tác giả để lại. Chỉ với hai chương nhạc thôi cũng không bao giờ làm chúng ta hết say mê. Chúng ta hài lòng chấp nhập sự tuyệt vời của những gì chúng ta đang có hơn là mong chờ vào những gì chúng ta không có.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
cso.org
philorch.org
artsandlectures.ucsb.edu

Bình luận Facebook