“Âm thanh của ông thật tuyệt vời và nó hoàn toàn là của riêng ông… không ai khác có được nó một cách chính xác như vậy… Ông ngưỡng mộ âm nhạc theo cách không ai khác trên thế giới có thể làm được. Ông là một trong những nghệ sĩ thú vị và vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta. Ông là người nghệ sĩ lý tưởng để làm việc cùng.” – Colin Davis
Claudio Arrau không hề có kiểu cách cầu kỳ hay diễn giải thái quá nào. Là một người đàn ông nghiêm túc, kiệm lời, ông luôn giữ kín chiều sâu cảm xúc của mình, chỉ đưa ra những hiểu biết tinh tế, sâu sắc và phong phú nhất của nó thông qua các màn trình diễn tuyệt vời trên sân khấu. Là một trong những nghệ sĩ piano bền bỉ với sự nghiệp kéo dài và rực rỡ trong thế kỷ 20, Arrau là tên tuổi vĩ đại nhất của nền âm nhạc cổ điển mà đất nước Chile đã từng sản sinh ra. Danh mục biểu diễn của ông rất rộng lớn, trải dài từ Johann Sebastian Bach đến các nhà soạn nhạc đương đại, thành tựu Arrau đạt được nổi trội với những tác phẩm của Ludwig van Beethoven, Robert Schumann, Johannes Brahms, Franz Liszt hay Claude Debussy.
Claudio Arrau sinh ra tại Chillán, cách thủ đô Santiago khoảng 400km về phía Nam vào ngày 6/2/1903 trong một gia đình có người mẹ, bà Lucrecia là một nghệ sĩ piano còn người cha, ông Carlos là bác sĩ nhãn khoa rất được người dân kính trọng nhưng đã qua đời vì tai nạn cưỡi ngựa khi Claudio mới chỉ lên một tuổi. Lucrecia từng sững sờ khi Claudio có thể chơi từ trí nhớ một tác phẩm mà bà vừa dạy cho học trò của mình. Mẹ cậu chính là giáo viên piano đầu tiên của cậu và Claudio đã biết đọc nhạc trước khi biết chữ, một biểu hiện cho thấy Arrau chính là được sinh ra cho âm nhạc. Lên 5 tuổi, cậu bé đã có buổi biểu diễn trong cuộc đời với các tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart, Beethoven và Schumann. Cậu đã trở nên nổi tiếng như là một thần đồng. Arrau nhớ lại thuở ấu thơ của mình: “Tất cả những gì tôi muốn là âm nhạc. Tôi thậm chí còn được cho ăn khi chơi đàn piano. Nếu không, có vẻ như, tôi sẽ không ăn. Tôi thường chơi với tư thế há to miệng và mẹ tôi đút thức ăn vào đó”. Cả gia đình chuyển đến Santiago để Arrau có thể theo học với Bindo Paoli, một giảng viên piano nổi tiếng. Ngày 4/6/1910, cậu biểu diễn tại Santiago trước sự tham dự của nhiều đại biểu quốc hội và tổng thống Pedro Montt. Nhận thức được đây sẽ là một tài năng lớn trong tương lai, nhà nước Chile đã tài trợ cho Claudio một học bổng để cả gia đình có thể chuyển tới nước Đức vào tháng 5/1910. Con tàu tới Đức có ghé qua Argentina và cậu cũng đã có một buổi biểu diễn tại Buenos Aires.
Năm 1911, Claudio đã được nhận vào học tại Nhạc viện Stern (ngày nay là một phần của Universität der Künste Berlin). Tại đây, cậu đã may mắn khi được theo học với Martin Krause bắt đầu từ năm 1913, người từng là học trò của Liszt và cũng là thầy của Edwin Fischer. Dưới sự dìu dắt của Krause, Claudio đã bộc lộ khả năng ưu tú của mình. Ở tuổi 11, cậu đã có thể chơi thành thạo Biến tấu trên chủ để Paganini của Brahms và Transcendental Études của Liszt, một trong những tác phẩm thách thức nhất về mặt kỹ thuật. Krause đã gần như thay thế cho người cha đã qua đời của Claudio, ông quan tâm đến hầu hết các khía cạnh trong cuộc sống và sự phát triển của cậu, hướng dẫn cậu quan tâm đến nghệ thuật, văn học và opera. Trong việc biểu diễn piano, Krause đã đặt ra cho học trò mình nền tảng của kỹ thuật không chỉ căn cứ vào sức chịu đựng và độ bền của thể chất mà còn dựa trên việc kỹ thuật là phương tiện để giải thích âm nhạc. Đây là những điều mà cậu bé sẽ mang theo trong suốt sự nghiệp của mình. Claudio chính là người mà Krause luôn hằng tìm kiếm: “Cậu bé sẽ là tác phẩm bậc thầy của tôi”.
Berlin khi đó đã là một trung tâm âm nhạc lớn tại châu Âu, Claudio đã may mắn được chứng kiến hầu hết những nghệ sĩ tài năng nhất của thời điểm đó. Cậu tỏ ra rất yêu thích Teresa Carreño và Ferruccio Busoni. Krause đã tổ chức cho Claudio biểu diễn một chương trình ra mắt khán giả Berlin vào ngày10/12/1914. Ngay sau đó, cậu đã có buổi biểu diễn đầu tiên với nhạc trưởng lừng lẫy Arthur Nikisch trong Concerto piano số 1 của Liszt tại Leipzig. Claudio theo học với Krause cho tới khi ông qua đời vào năm 1918. Đó là một cú sốc thật sự đối với cậu. Phải mất rất nhiều thời gian Claudio mới có thể vượt qua nỗi bất hạnh này. Krause cũng trở thành giáo viên cuối cùng của cậu. Ở tuổi 15, Claudio đã một mình dấn thân vào sự nghiệp của nghệ sĩ piano, áp dụng phương pháp của Krause vào tất cả những gì mình sẽ biểu diễn sau đó. Vào thời điểm này, cậu đã giành được một số giải thưởng tại châu Âu. Năm 1920, lần đầu tiên Claudio biểu diễn cùng Berlin Philharmonic dưới sự chỉ huy của Karl Muck trong Fantasy Wanderer của Franz Schubert (phiên bản Liszt chuyển soạn cho piano và dàn nhạc) và sau đó là những lần hợp tác với Willem Mengelberg và Wilhelm Furtwängler. Ngày 30/5/1920, cậu biểu diễn thành công Rhapsodie espagnole (Liszt) tại Royal Albert Hall, London trong một chương trình có sự góp mặt của Bronislaw Hubermann và Nellie Melba.
Cuối năm 1923, Arrau nhận được lời mời tới biểu diễn tại Mỹ với cam kết lên đến 30 buổi hoà nhạc. Nhưng rồi con số cuối cùng chỉ là năm: ba buổi tại New York, một tại Chicago và một tại Boston. Đó thực sự là một thất bại, một bài báo trên New York Times đã nhận xét dù có một chút tài năng nhưng lối chơi của Arrau chỉ để phục vụ cho mục đích cá nhân. Buổi biểu diễn sau đó vào ngày 4/2/1923 cùng Boston Symphony Orchestra với Pierre Monteux trong Concerto piano số 2 của Chopin cũng không khiến khán giả hài lòng. Ông trở về Đức trong tình trạng gần như hết sạch tiền. Sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ Chile đã không còn, cuộc sống trống vắng khi Krause qua đời vẫn chưa được lấp đầy đã khiến Arrau trầm cảm và mất tự tin. Khoảng thời gian này được Arrau miêu tả là “những năm khó khăn và bất hạnh nhất trong cuộc đời tôi”. Trở nên nhút nhát và rụt rè, ông quyết định tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên nghiệp cho căn bệnh trầm cảm của mình từ nhà phân tâm học Hubert Abrahamsohn ở Đức. Việc điều trị thành công và Arrau đã có được sự tự tin để nhận một vị trí giảng dạy tại Nhạc viện Stern, ngôi trường cũ của ông và gắn bó với nơi đây cho đến năm 1940. Năm 1927, ông đã giành giải nhất trong cuộc thi piano quốc tế tại Geneva. Trong thành phần ban giám khảo có Alfred Cortot và Arthur Rubinstein. Năm 1929 và 1930, Arrau lần lượt có những chuyển biểu diễn tại Liên Xô. Ông cũng từng rẽ ngang sang lĩnh vực điện ảnh khi đóng trong một bộ phim về Liszt “Sueno de Amor”, được quay tại Mexico City.
Năm 1935, Arrau đã gây một tiếng vang lớn tại Berlin khi ông biểu diễn toàn bộ các tác phẩm dành cho đàn phím của Bach trong 12 đêm diễn. Âm nhạc của Bach đã gắn bó với ông trong suốt thời gian đầu của sự nghiệp. Arrau chính là nghệ sĩ đầu tiên thu âm Biến tấu Goldberg trên piano vào năm 1942. Wanda Landowska là người đầu tiên thu âm tác phẩm này vào năm 1933, nhưng là trên harpsichord. Khi Arrau biết đến Landowska, ông đã ngừng chơi Bach trong một khoảng thời gian rất dài vì ông cho rằng âm nhạc của Bach thực sự nên được chơi trên harpsichord. Arrau thậm chí từng có ý định theo học harpsichord để có thể tự mình chơi trên nhạc cụ này. Thay vì Bach, Arrau đã trở thành một phiên dịch viên vĩ đại của Liszt trong những năm trước khi xảy ra Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, những tác phẩm của Liszt lại không quá thu hút khán giả đến phòng hoà nhạc. Vì vậy, ông tập trung vào Mozart, Beethoven, Schumann và Brahms. Năm 1935, Arrau giới thiệu trọn bộ các tác phẩm dành cho piano của Mozart tới khán giả và bắt đầu trình diễn tất cả các sonata piano của Beethoven trong năm tiếp theo, cũng như nhiều tác phẩm của Schubert và Carl Maria von Weber. Những bài huấn luyện liên quan đến độ bền và sức chịu đựng của thể trạng cơ thể đã giúp Arrau chịu đựng được một lịch diễn dày đặc với cường độ cao. Năm 1937, Arrau kết hôn với giọng mezzo-soprano người Đức Ruth Schneider. Họ có với nhau ba người con. Năm 1938, ông biểu diễn trọn bộ năm concerto piano của Beethoven tại Mexico City.
Thế chiến thứ hai xảy ra, Arrau quay trở về Chile vào năm 1940 và thành lập một trường dạy piano tại Santiago. Năm 1941, ông quyết định tiếp tục chinh phục nước Mỹ và lần này Arrau đã thành công rực rỡ. Olin Downes, bình luận trên New York Times về màn trình diễn của Arrau trong các tác phẩm của Mozart, Schumann, Ravel và Debussy, đã miêu tả ông là “một nghệ sĩ piano sở hữu hầu hết các kỹ năng đặc biệt, trí tưởng tượng và gu thẩm mỹ bất tận”. Arrau đã quyết định định cư tại Queens, New York và gắn bó với nơi đây cho đến khi chuyển tới Munich vào tháng 11/1990. Ngày 2/1/1943, ông lần đầu tiên biểu diễn cùng New York Philharmonic dưới sự chỉ huy của Dimitri Mitropoulos trong Concerto piano số 4 của Beethoven. Trong những năm sau này, Arrau nổi lên như một diễn giải viên vĩ đại về âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài này. Ông đã thu âm trọn bộ các concerto piano và sonata piano của Beethoven cho hãng Philips. Ngoài ra, theo một thống kê, Arrau đã trình diễn toàn bộ 32 sonata piano của nhà soạn nhạc vĩ đại này ít nhất là 5 lần, tại New York, London, Buenos Aires, Berlin và Mexico City, một điều mà rất ít nghệ sĩ đã thực hiện.
Arrau là một nghệ sĩ có lịch trình biểu diễn dày đặc. Trong vòng 20 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, ông thường xuyên tổ chức khoảng 120 chương trình mỗi năm trên khắp thế giới. Ngoài những tác giả quen thuộc, ông còn tìm đến với những nhà soạn nhạc khác như Max Reger, Charles-Valentin Alkan, Igor Stravinsky, Arnold Schoenberg và Busoni. Trong những năm 1950, Arrau đã mở rộng sức hút của mình bằng cách biểu diễn rộng rãi ở Mexico và Nam Mỹ. Bất kỳ khi nào ông trở về Chile, Arrau cũng được khán giả đón nhận vô cùng nồng nhiệt. Ông đã trở thành niềm tự hào của đất nước vốn không phải cái tên nổi bật trên bản đồ âm nhạc cổ điển thế giới này. Tuy nhiên, Arrau đã từ chối biểu diễn tại quê nhà cũng như không trở lại nơi đây từ năm 1967 để phản đối chế độ của tổng thống Salvador Allende và sau đó là chống lại sự cai trị độc đoán của tướng Augusto Pinochet, người đã lật đổ Allende. Năm 1968, ông trở lại biểu diễn tại Liên Xô. Các chương trình của Arrau tại Moscow và Leningrad nhanh chóng hết sạch vé chỉ trong vòng hai giờ đồng hồ. Arrau cũng tổ chức các buổi hoà nhạc tại Ấn Độ và Nhật Bản.
“Một diễn giải viên phải cống hiến cả máu của mình cho tác phẩm được diễn giải”, đó là cách mà Arrau thực hiện công việc của mình. Với ông, trung thành với những ý tưởng của nhà soạn nhạc luôn là kim chỉ nam trong hành động. Arrau còn nghiên cứu kỹ lưỡng cuộc đời của nhà soạn nhạc và hoàn cảnh sáng tác cụ thể của từng tác phẩm, trong đó ông đặc biệt chú ý tới trạng thái tinh thần của họ, một điều nảy sinh từ chính căn bệnh trầm cảm trước đây của ông. Mục đích nghệ thuật chân chính của Arrau không chỉ là thể hiện tác phẩm mà là khám phá và suy nghĩ về âm nhạc. Ở ông, đó là sự kết hợp hoàn hảo giữa tính kỷ luật nghiêm khắc được hun đúc qua những năm tháng học tập tại Đức và sự phóng khoáng, đam mê đầy tự nhiên đến từ dòng máu Nam Mỹ của bản thân. Với Arrau: “Tôi cố gắng chơi theo cách một con mèo nhảy. Nó phải hoàn toàn tự nhiên. Tôi đã tự hứa với bản thân rằng bất cứ khi nào tôi cảm thấy có một thứ sáo mòn len lỏi trong cách chơi của mình, tôi sẽ dừng lại. Bây giờ khi tôi chơi đàn, tôi gần như đang ở trong trạng thái hưng phấn, một sự xuất thần sáng tạo, mà tôi sẽ không bỏ lỡ bất cứ điều gì. Đó là cách mà tôi sống”. Trong những năm tháng về sau, Arrau có xu hướng chơi với một tốc độ chậm hơn cho dù ông sở hữu một nền tảng kỹ thuật hoàn hảo, điều mà không ai có thể phủ nhận nếu từng thưởng thức những bản thu âm của ông thời kỳ trước đó. Sở hữu tài năng vượt trội, nhận được sự tung hô và đón nhận ở bất cứ nơi nào ông tới nhưng Arrau là một con người khiêm tốn, luôn cho rằng nghệ thuật trình tấu của mình là một món quà và nó có thể đến với bất kỳ ai. Arrau còn được biết đến như một người rất ham đọc sách, ông từng nói ước gì mình sống được đến 100 tuổi “chỉ để đọc sách”. Dù chưa bao giờ đến trường học, Arrau rất uyên bác, ngoài tiếng mẹ đẻ, ông thông thạo tiếng Đức, Anh, Ý và Pháp. Arrau cũng tham gia giảng dạy, người học trò xuất sắc nhất của ông là Garrick Ohlsson. Ông khuyến khích những nghệ sĩ piano trẻ ngoài việc học đàn: “Các bạn nên đến thăm các viện bảo tàng. Các bạn nên đến nhà hát. Một người chơi piano không nên chỉ chuyên về âm nhạc mà hãy trở thành nghệ sĩ”.
Năm 1978, dù đã ở tuổi 75, Arrau vẫn thể hiện sức mạnh phi thường của mình bằng một chuyến lưu diễn trên 14 quốc gia trong gần 100 buổi hoà nhạc. Sau một chương trình của ông, Newsweek đã nhận xét: “Arrau đã tấn công các tác phẩm theo phong cách điển hình của ông: táo bạo dữ dội với sự tôn trọng các nốt nhạc được sáng tác”. Ông cũng hỗ trợ nhà xuất bản Edition Peters hoàn thiện toàn bộ các sonata piano của Beethoven trong một ấn bản được phát hành vào năm 1978, Arrau đã miêu tả mục đích và phương pháp của mình: “Các biên tập viên của Peters và tôi tranh luận về từng ghi chú staccato nhỏ. Tôi giữ các chỉ dẫn cường độ một cách nghiêm ngặt và chỉ thêm lưu ý của mình ở những nơi không có hoặc thật cần thiết vì lý do diễn giải hoặc biểu diễn”. Tháng 2/1979, chỉ sau khi sinh sống hơn 30 năm, ông mới nhập quốc tịch Mỹ dù vẫn giữ hộ chiếu Chile. Tháng 4/1980, Arrau tổ chức 60 năm ngày ra mắt cùng Berlin Philharmonic và được trao tặng huân chương Hans von Bülow, dành cho những nghệ sĩ thân thiết với dàn nhạc. Dàn nhạc đã ca ngợi ông: “Khi Arrau cúi xuống bàn phím, nó cứ như thể âm nhạc và chỉ riêng âm nhạc đang chảy ra khỏi toàn bộ cơ thể ông. Không có một sắc thái cảm xúc hay âm thanh nào mà ông không làm chủ được. Tiếng pianissimo của ông hùng biện hơn, bí ẩn hơn những người khác và fortissimo của ông có kích thước lớn và vô hạn” Năm 1983, lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Arrau được tổ chức long trọng bằng một buổi biểu diễn của ông tại Avery Fisher Hall, New York và sau đó là chương trình hoà nhạc cùng Philadelphia Orchestra dưới sự chỉ huy của Riccardo Muti. Tất cả đều được truyền hình trực tiếp. Nhiều địa điểm khác tại Paris, London, Berlin cũng tổ chức các chương trình chúc mừng sinh nhật ông như Chicago Tribune đã giật tít: “Arrau bước sang tuổi 80 và cả thế giới ăn mừng”. Philips cũng phát hành “The Arrau Edition”, tuyển tập 59 đĩa nhạc, được đánh giá là “một trong những di sản âm nhạc hoành tráng nhất thế kỷ”. Nhiều bản thu âm thời kỳ đầu của ông đã được tái bản.
Tháng 5/1984, sau 17 năm, Arrau có chuyến trở về đầy cảm động tại Chile. Ông được hoan nghênh như một biểu tượng của hoà bình. Lễ đón tiếp Arrau diễn ra vô cùng trọng thị như một biểu tượng quốc gia, có thể so sánh với sự trở về Ba Lan của Ignacy Jan Paderewski sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Ông được chào đón ngay tại chân máy bay và hàng dài người hâm mộ đã xếp hàng tới 13 giờ đồng hồ để có thể sở hữu tấm vé vào xem Arrau biểu diễn. Ngoài chợ đen, vé được chào bán với cái giá lên tới hàng trăm đô la, một con số khủng khiếp với người dân Chile vào thời điểm đó. Ông đã biểu diễn 6 buổi trong 11 ngày “cho một thế hệ hoàn toàn mới chưa bao giờ được nghe tôi chơi”. Trong một chương trình miễn phí cho các sinh viên, Arrau đã thu hút tới 7.000 khán giả được nhồi nhét bên trong sân khấu, chủ yếu là đứng, đó là chưa kể tới 4.000 người đội mưa đứng nghe bên ngoài qua màn hình. Đó là tình yêu và sự tôn thờ ngoài sức tưởng tượng, khiến Arrau đã rơi nước mắt rất nhiều lần. Các buổi biểu diễn này của Arrau đã được phát thanh và truyền hình trực tiếp. Ước tính có khoảng 80% dân số Chile đã thưởng thức tài năng của ông.
Arrau vẫn duy trì được sự dẻo dai và bền bỉ khi đã ở độ tuổi ngoài 80. Giải thích cho cường độ làm việc của mình, ông cho biết: “Tôi nghĩ điều đó là không thể. Tôi sẽ đi đến địa ngục… Tôi sẽ không mạo hiểm. Đơn giản là tôi có thể quá sợ hãi để lên sân khấu một lần nữa”. Ngày 3/6/1986, trong một chương trình tại Royal Festival Hall, London, ông đã biểu diễn 4 sonata piano đáng sợ của Beethoven, được London Times mô tả: “một đòi hỏi nặng nề ngay cả với những nghệ sĩ bằng một nửa tuổi của ông” và nhận được sự tung hô được ghi nhận là một trong những lần hoan nghênh lớn nhất của phòng hoà nhạc. Trong những năm cuối thập niên 80, ông giảm dần xuống còn khoảng 50 buổi biểu diễn trong một năm, trải đều trên ba lục địa. Ngày 3/11/1988, Arrau trở lại London trong Concerto piano số 5 “Hoàng đế” của Beethoven. Daily Telegraph, trong bài báo “Thiên tài Arrau” đã nhận xét: “Arrau là nghệ sĩ piano vĩ đại nhất thế giới kể từ sau Busoni và Schnabel”. Arrau lý giải động lực của mình, rằng ông luôn tìm thấy điều mới mẻ về một tác phẩm dù đã chơi nó trong nhiều năm: “Đúng là có một loại trí tuệ phát triển khi tuổi cao và tôi hy vọng sẽ được cảm nhận trong các buổi biểu diễn của mình”. Năm 1989, với sự qua đời của vợ ông, Arrau đã ngừng biểu diễn trong gần hai năm. Khi quay trở lại, Arrau đã bắt đầu một dự án mới đầy tham vọng. Ông quay trở lại với âm nhạc của Bach sau hơn 60 năm với việc thu âm trọn bộ các tác phẩm dành cho đàn phím, thực hiện cùng Philips. Ông đã thực hiện được 4 partita (số 1, 2, 3 và 5) vào tháng 3/1991 thì bất ngờ qua đời vào ngày 9/6/1991 ở tuổi 88 tại Mürzzuschlag, Áo do biến chứng của cuộc phẫu thuật khẩn cấp một ngày trước đó để chữa trị việc tắc nghẽn đường ruột. Thể theo nguyện vọng, di hài của Arrau được đưa về chôn cất tại Chile. Hài cốt của ông được an táng tại thành phố Chillán. Agustin. Cháu của Arrau cho biết ông luôn tâm niệm rằng “tâm trí và tư duy thuộc về nước Đức còn trái tim thuộc về Chile”. Ngày 10/6/1991 được chính quyền Chile ấn định là ngày quốc tang để tưởng nhớ và tri ân ông, một trong những đại diện lỗi lạc nhất của nền nghệ thuật nước nhà. Một đại lộ lớn ở Santiago cũng được đặt tên Arrau để vinh danh người nghệ sĩ vĩ đại.
Là một nghệ sĩ piano ít hào hoa nhất, không bao giờ chúng ta thấy được ở Arrau sự khoa trương. Mỗi hợp âm đều có trọng lượng tuyệt vời, các ngón tay tạo ra một mô hình tinh xảo được đục đẽo kỹ càng, hình dáng của từng câu nhạc được cân nhắc cẩn trọng và sâu sắc. Cả cuộc đời ông luôn theo đuổi một mục tiêu duy nhất: tạo ra ý nghĩa thực sự cho tác phẩm như nhà phê bình âm nhạc Neville Cardus đã giải thích về Arrau một cách sinh động: “Arrau là một nghệ sĩ piano trọn vẹn. Ông có thể say sưa bên phím đàn vì lợi ích của riêng nó, đại diện cho chúng ta về phạm vi và sức mạnh của nhạc cụ, nhưng ông cũng có thể vượt ra ngoài việc chơi piano khi chúng ta được nghệ thuật của ông dẫn dắt đến những căn phòng bí mật của trí tưởng tượng sáng tạo”.
Cobeo





