Thông tin chung
Opera: Carmen
Âm nhạc: Georges Bizet
Libretto: Henri Meilhac và Ludovic Halévy, được dựa theo truyện ngắn cùng tên của Prosper Mérimée.
Thời gian sáng tác: Năm 1873-1874.
Công diễn lần đầu: Ngày 3/3/1875 tại Opéra-Comique, Paris dưới sự chỉ huy của Adolphe Deloffre.
Độ dài: Khoảng 2h50 phút.
Nhân vật/Loại giọng:
Carmen: Mezzo-soprano/Soprano
Don José: Tenor
Micaëla: Soprano
Escamillo: Bass-Baritone
Frasquita: Soprano
Mercédèse: Mezzo-soprano
Remendado: Tenor
Dancaïre: Baritone
Zuniga: Bass
Moralès: Baritone
Thành phần dàn nhạc: 2 flute (cả 2 kiêm piccolo), 2 oboe (oboe 2 kiêm English horn), 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, timpani, side drum, triangle, tambourine, cymbals, castanets, bass drum, harp và dàn dây.
Hoàn cảnh sáng tác
Bizet luôn phải tìm kiếm cơ hội để các tác phẩm của mình được biểu diễn. Hai nhà hát chính của Paris, được nhà nước tài trợ: Opéra và Opéra-Comique khá bảo thủ với kịch mục của mình, phần nào đã hạn chế cơ hội xuất hiện của những vở opera mới. Với những mối quan hệ nghề nghiệp của mình với Léon Carvalho, người quản lý của nhà hát Théâtre Lyrique độc lập, Bizet mới có cơ hội công diễn 2 vở opera lớn của mình là Les pêcheurs de perles (1863) và La jolie fille de Perth (1867) nhưng đều không gặt hái được thành công. Mọi thứ chỉ trở nên sáng sủa hơn đôi chút khi cuộc chiến tranh Pháp-Phổ kết thúc vào năm 1871. Vở opera một màn Djamileh của ông được ra mắt vào ngày 22/5/1872 tại Opéra-Comique. Tuy nhiên, bất chấp tác phẩm chỉ tồn tại được sau 11 buổi biểu diễn, Bizet được nhà hát đặt hàng một vở opera mới với libretto do Henri Meilhac và Ludovic Halévy thực hiện. Cả hai đã gây dựng được tiếng vang trước đó khi viết kịch bản cho một số vở operetta của Offenbach. Halévy từng tham gia sáng tác libretto cho vở opera Le docteur miracle của Bizet vào năm 1856. Ông cũng là em họ bên vợ của Bizet.
Bizet rất vui mừng với dự án này. Ông đã tâm sự với người bạn Edmund Galabert về sự hài lòng của mình “chắc chắn tuyệt đối của việc tìm thấy con đường của tôi”. Chủ đề của vở opera cũng là nguyên nhân của nhiều sự tranh luận, hai tác giả kịch bản và Adolphe de Leuven, đại diện cho Opéra-Comique đã đề xuất một số chủ đề nhưng đều bị Bizet từ chối lịch sự. Chính nhà soạn nhạc đã đưa ra vấn đề chuyển soạn truyện ngắn Carmen của Mérimée thành một vở opera và mọi người đã đồng ý. Bizet say mê các tác phẩm của Mérimée trong thời gian ở Rome (1858-1860). Vở opera được xác định là thuộc thể loại opéra comique, sử dụng nhiều hội thoại. Nội dung của vở opera khác biệt khá đáng kể với truyện gốc của Mérimée.
Quá trình sáng tác Carmen kéo dài hơn dự kiến. Bizet được cho là bắt đầu công việc của mình vào tháng 1/1873 để sẵn sàng cho việc luyện tập vào tháng 10 năm đó. Tuy nhiên, việc tìm kiếm ca sĩ cũng như những mâu thuẫn giữa những nhà quản lý của Opéra-Comique: Leuven và Camille du Locle đã khiến công việc bị chậm lại. Leuven kịch liệt phản đối nội dung vở opera, được coi là quá liều lĩnh, bất chấp việc Halévy cam kết rằng câu chuyện sẽ được làm dịu đi, nhân vật Carmen sẽ được kiềm chế và sự xuất hiện của Micaëla (không có trong tác phẩm gốc), được Halévy mô tả là “một cô gái trẻ rất ngây thơ, rất trong sáng” sẽ làm hài hoà hơn. Leuven đã từ chức vào đầu năm 1874.
Sau khi hoàn thành phần phối khí tác phẩm vào mùa hè năm 1874 với số lượng bản thảo lên đến 1.200 trang, Bizet không nghi ngờ gì về chất lượng tác phẩm của mình: “Họ cho rằng tôi mù mờ, phức tạp, tẻ nhạt, được trang bị kỹ thuật nhiều hơn là cảm hứng sáng tác. Chà, lần này tôi đã viết một tác phẩm rõ ràng và sống động, đầy màu sắc và giai điệu”. Carmen đã được đưa ra luyện tập vào tháng 10/1874. Tuy nhiên, trong quá trình dàn dựng, Bizet đã phải liên tục sửa đổi, để đáp ứng nhu cầu của quản lý nhà hát, dàn nhạc và cả ca sĩ. Riêng aria nổi bật “L’amour est un oiseau rebelle” hay “Habanera”, ông đã phải sửa lại không dưới 14 lần để phù hợp với giọng hát của Célestine Galli-Marié, người vào vai Carmen. Thật trớ trêu, giai điệu mà Bizet tưởng là dân ca hoá ra lại là một bài hát của Sebastián Yradier. Tổng phổ mà Bizet công bố vào tháng 3/1875 khác biệt khá lớn so với tổng phổ mà ông bán cho nhà xuất bản Choudens vào tháng 1/1875.
Cuối cùng, sau những trục trặc, Carmen cũng được ra mắt tại Opéra-Comique vào ngày 3/3/1875. Chương trình có sự tham gia của nhiều nhân vật âm nhạc hàng đầu của Paris như Massenet, Offenbach, Delibes và Gounod. Halévy trong một bức thư gửi cho người bạn, đã ghi lại quá trình công diễn vở opera này. Màn đầu tiên rõ ràng đã được đón nhận nồng nhiệt, với những tràng pháo tay dành cho những nhân vật chính với rất nhiều lần gọi ra chào khán giả. Màn II cũng bắt đầu được đón nhận nồng nhiệt cho khi đến xuất hiện bài hát của Escamillo (Toreador) và chỉ còn lại “sự lạnh lùng”. Trong màn III, chỉ có aria của Micaëla là nhận được sự vỗ tay của khán giả. Màn cuối cùng là “băng giá từ đầu tới cuối” và Bizet chỉ còn lại “với sự an ủi của một vài người bạn”. Nhà phê bình âm nhạc Ernest Newman cho rằng khán giả của Opéra-Comique vốn theo chủ nghĩa tình cảm, tỏ ra bất ngờ và bị sốc trước “chủ nghĩa hiện thực quyết liệt của hành động” từ những nhân vật có đạo đức thấp kém. Bizet cũng ngỡ ngàng trước phản ứng của khán giả: “Bạn không thấy rằng tất cả những người tư sản này đã không hiểu một từ khốn khổ trong tác phẩm tôi đã viết cho họ?”. Bizet chỉ nhận lại được một vài lời động viên ít ỏi, trong đó có của Massenet: “Bạn phải hạnh phúc biết bao vào lúc này – đó là một thành công lớn!”.
Rõ ràng, những cảnh như công nhân nhà máy hút thuốc, các nhân vật “đời thường” và chủ đề ám ảnh khiêu dâm khiến Carmen bị coi là thô tục, thiếu đạo đức và đáng khinh bỉ. Carmen không phải là một cô gái yếu đuối, đức hạnh như motif quen thuộc mà là “hiện thân của sự truỵ lạc”. Những nhà phê bình so sánh Carmen với những tác phẩm truyền thống tại Opéra-Comique của Auber và Boieldieu để chê tác phẩm là “buồn tẻ và khó hiểu… đôi tai mệt mỏi chờ đợi màn kết mãi không thấy đến”. Carmen đã chia sẻ sân khấu Opéra-Comique với Requiem của Verdi trong một khoảng thời gian. Nhưng mặc dù nhà hát đã trao tặng một lượng vé lớn nhưng khán phòng vẫn vắng vẻ. Sau buổi biểu diễn thứ 33 của Carmen, Bizet đã qua đời vào ngày 3/6/1875, mang trong mình nỗi phẫn uất vì không nhiều người hiểu được tác phẩm tuyệt vời của mình.
Sau cái chết của Bizet, Carmen đã dần dần được đón nhận tại châu Âu. Tchaikovsky sau khi thưởng thức tác phẩm đã viết thư cho người bảo trợ của mình, Nadezhda von Meck: “Carmen là một kiệt tác theo mọi nghĩa của từ này… Một trong những sáng tạo hiếm hoi thể hiện nỗ lực của cả một kỷ nguyên âm nhạc”. Wagner và Brahms cũng dành nhiều lời ngợi khen cho tác phẩm. Brahms không dưới 20 lần xem vở opera này và cho biết: “Sẽ đi đến tận cùng trái đất để ôm Bizet”. Bất chấp phản ứng tích cực tại các quốc gia khác. Carvalho, lúc này đã chuyển sang quản lý Opéra-Comique, cho rằng tác phẩm là trái đạo đức và từ chối phục dựng nó. Phải đến tháng 4/1883, Carvalho mới cho công diễn lại Carmen, nhưng loại bỏ đi một số khía cạnh được cho là gây tranh cãi trong lần ra mắt. Gặp phải rất nhiều sự phản đối, tháng 10/1883, Carmen mới được Carvalho khôi phục lại phiên bản gốc. Kể từ đó, Carmen luôn nằm trong số những vở opera được công diễn nhiều nhất trên toàn thế giới và được coi là kiệt tác trong kho tàng âm nhạc cổ điển của nhân loại.
Carmen mở đầu bằng một overture có chứa đựng các motif âm nhạc sẽ còn được gặp lại ở phần sau của tác phẩm. Đó là lời chào mừng dũng sĩ đấu bò ở màn IV, một trích đoạn trong aria Escamillo của màn II và motif âm nhạc cuối cùng, được sử dụng theo hai biến tấu hơi khác nhau, được chơi trên clarinet, bassoon, horn và cello trên nền dàn dây chơi tremolo, đại diện cho Carmen và số phận của cô, kết thúc đột ngột bằng một đoạn crescendo.
Tóm tắt nội dung
Thời gian: Khoảng năm 1820.
Địa diểm: Seville, Tây Ban Nha và vùng đồi núi xung quanh.
Màn I
Một quảng trường ở Seville. Phía bên phải là một cánh cửa vào nhà máy thuốc lá. Ở phía sau, một cây cầu. Bên trái là một chòi canh.
Một nhóm binh lính tán gẫu trên quảng trường, chờ đợi thay ca và bình luận về những người qua đường (Chorus “(“Sur la place, chacun Pass”). Micaëla xuất hiện, tìm kiếm Don José. Moralès nói với cô rằng chưa đến phiên trực của anh ta và mời cô đợi cùng họ. Cô từ chối và nói rằng sẽ trở lại sau. Ngay sau khi cô rời đi, Don José đến cùng viên sĩ quan mới Zuniga và họ được một đám trẻ con đón chào (Chorus “Avec la garde montante”). Khi chuông nhà máy thuốc lá vang lên, các cô gái ngậm phì phèo điếu thuốc và trò chuyện với những người đàn ông trẻ trong đám đông (Chorus “La cloche a sonné”). Carmen xuất hiện, khiêu khích mọi người với những tuyên ngôn của mình về bản chất tình yêu (“L’amour est un oiseau reble”). Những người đàn ông cầu xin cô hãy chọn họ làm người yêu và sau một vài lời trêu chọc, cô ném một bông hoa cho Don José, người luôn phớt lờ cô và bây giờ thêm khó chịu vì hành vi xấc xược của cô.
Khi những người phụ nữ quay trở lại nhà máy, Micaëla tới và trao cho Don José một bức thư và nụ hôn từ mẹ anh (Duet “Parle-moi de ma mère!”). Don José đọc bức thư và biết được rằng mẹ muốn anh trở về nhà và kết hôn với Micaëla, người đã vội vàng chạy đi vì xấu hổ khi biết điều này. Ngay khi Don José tuyên bố rằng anh đã sẵn sàng đáp ứng mong muốn của mẹ mình, những người phụ nữ chạy ra khỏi nhà máy trong sự hoảng loạn. Carmen đã dùng dao đâm một người phụ nữ khác. Zuniga ra lệnh cho Don José bắt giữ cô và nhận lại sự thách thức từ phía Carmen (“Tra la la… Coupe-moi, brûle-moi”). Khi chỉ còn lại hai người, Carmen đã quyến rũ Don José (“”Près des remparts de Séville”), cô kể cho anh về đam mê khiêu vũ với người yêu của mình – bất kể người đó là ai, trong quán rượu Lillas Pastia. Bị mê hoặc, Don José đã cởi trói cho cô. Khi bị dẫn đi, cô đã đẩy những người lính ra và vùng chạy thoát. Don José đã bị bắt giữ vì để tù nhân trốn đi.
Màn II
Prelude trước màn II là một giai điệu sẽ được Don José hát bên ngoài sân khấu trước khi anh xuất hiện.
Quán rượu Lillas Pastia.
Đã hai tháng trôi qua, Carmen và những người bạn của cô là Frasquita và Mercédès đang vui đùa với Zuniga và các binh lính khác (“Les tringles des sistres tintaient”). Cô vui khi biết được tin Don José đã được trả lại tự do. Bên ngoài, một đám đông ầm ĩ vì sự xuất hiện của dũng sĩ đấu bò Escamillo (Chorus “Vivat, vivat le Toréro”). Bước vào trong quán rượu, anh giới thiệu bản thân mình (“Votre toast, je peux vous le rendre”) và tán tỉnh Carmen. Tuy nhiên cô không để ý đến anh ta. Cuối cùng tất cả bọn họ đều rời đi.
Khi chỉ còn lại Carmen, Frasquita và Mercédès, những tên buôn lậu Dancaïre và Remendado đến và tiết lộ kế hoạch tiêu thụ một số hàng lậu mới mua gần đây (Quintet “Nous avons en tête une affaire”). Frasquita và Mercédès muốn giúp họ, nhưng Carmen từ chối, vì cô ấy muốn đợi Don José. Anh đã đến lúc Carmen chỉ còn lại một mình. Thực hiện lời nói trước đó, Carmen đã khiêu vũ cho anh xem (“Je vais danser en votre honneur… La la la”). Trại lính nổi lên lệnh tập hợp, Don José cho biết anh phải trở về. Cô chế nhạo anh và Don José trả lời bằng cách đưa ra bông hoa mà cô đã ném cho anh trước đó (“La fleur que tu m’avais jetée”). Không bị thuyết phục, cô yêu cầu anh thể hiện tình yêu bằng cách rời đi với mình. Don José từ chối nhưng vào lúc đó Zuninga quay trở lại với Carmen. Hai người lao vào nhau. Những người bạn của Carmen đã xông ra ngăn cản bọn họ. Tấn công một sĩ quan cấp trên, không còn cách nào khác, Don José đành phải đi theo Carmen và những kẻ buôn lậu (“Suis-nous à travers la campagne”).
Màn III
Prelude trước màn III vốn ban đầu được Bizet định sử dụng cho tác phẩm L’Arlésienne, là một cuộc đối thoại giữa các nhạc cụ bộ hơi, nổi bật với màn độc tấu của flute.
Một ngọn núi hoang dã.
Don José và Carmen gia nhập cùng với những kẻ buôn lậu (“Écoute, écoute, compagnons”). Carmen giờ đây đã cảm thấy chán ghét Don José và yêu cầu anh trở về với mẹ của mình. Frasquita và Mercédès tìm kiếm vận may của mình qua những lá bài. Carmen tham gia cùng họ và chợt nhận thấy các lá bài thông báo cái chết của mình. Những kẻ buôn lậu bắt đầu vận chuyển hàng hoá, những người phụ nữ tìm cách đánh lạc hướng nhân viên hải quan còn Don José được giao nhiệm vụ canh gác.
Micaëla đi cùng một người dẫn đường, cô quyết tâm tìm Don José và khuyên anh rời bỏ Carmen (“Je dis que rien ne m’épouvante”). Khi nghe thấy tiếng súng, cô vội vàng nấp đi. Đó là Don José bắn cảnh cáo một kẻ đột nhập, hoá ra lại là Escamillo. Don José tức giận khi Escamillo tuyên bố say mê Carmen. Hai người lao vào ẩu đả (“Je suis Escamillo, toréro de Grenade”) trước khi những kẻ buôn lậu và các cô gái lao vào can ngăn (“Holà, holà José”). Trước khi Escamillo rời đi, anh ta mời mọi người tới tham dự trận đấu bò sắp tới của mình ở Seville. Micaëla bị phát hiện. Lúc đầu Don José không chịu rời đi bất chấp sự chế nhạo của Carmen nhưng rồi anh đồng ý khi Micaëla cho biết mẹ anh sắp qua đời. Trước khi ra đi, Don José thề sẽ quay trở lại. Tiếng hát của Escamillo vang lên từ phía xa.
Màn IV
Prelude trước màn IV mà một trích đoạn sống động được bắt nguồn từ vở operetta El Criado Fingido của Manuel García.
Một quảng trường ở Seville.
Frasquita và Mercédès lẫn trong đám đông đang hò reo chờ đợi người đấu bò (“Les voici! Voici la quadrille!”). Escamillo xuất hiện cùng Carmen, bày tỏ tình yêu dành cho nhau (Duet “Si tu m’aimes, Carmen”). Frasquita và Mercédès cảnh báo Carmen rằng Don José đang ở gần đó nhưng Carmen không sợ hãi, sẵn sàng đối diện với anh. Ở lại một mình, Carmen đã gặp Don José đầy tuyệt vọng (Duet “C’est toi!”, “C’est moi!”). Khi anh van xin cô trở lại với mình, tiếng hò reo từ đấu trường vang vọng lại. Carmen lạnh lùng từ chối, ném trả lại chiếc nhẫn anh tặng cô trước đó. Don José đâm cô và trong khi đám đông đang tung hô Escamillo, Carmen đã chết. Don José quỳ xuống (“Ah! Carmen! Ma Carmen adorée!”).
Một số đoạn trích libretto
Habanera (“L’amour est un oiseau rebelle”)
|
Quand je vous aimerai?
Ma foi, je ne sais pas…
Peut-être jamais!.. peut-être demain!..
Mais pas aujourd’hui… c’est certain.
L’amour est un oiseau rebelle
que nul ne peut apprivoiser,
et c’est bien en vain qu’on l’appelle,
s’il lui convient de refuser!
Rien n’y fait, menace ou prière,
l’un parle bien, l’autre se tait;
et c’est l’autre que je préfère,
il n’a rien dit, mais il me plaît.
l’amour! l’amour! l’amour! l’amour!
L’amour est enfant de Bohême,
il n’a jamais, jamais connu de loi,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi!
(Si tu ne m’aimes pas,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime!
Mais si je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi! ) x2
L’oiseau que tu croyais surprendre
battit de l’aile et s’envola;
l’amour est loin, tu peux l’attendre,
tu ne l’attends plus, il est là.
Tout autour de toi, vite, vite,
il vient, s’en va, puis il revient;
tu crois le tenir, il t’évite,
tu crois l’éviter, il te tient!
l’amour! l’amour! l’amour! l’amour!
L’amour est enfant de Bohême,
il n’a jamais, jamais connu de loi,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi!
(Si tu ne m’aimes pas,
si tu ne m’aimes pas, je t’aime!
Mais si je t’aime,
si je t’aime, prends garde à toi!) x2
|
Khi nào tôi sẽ yêu anh?
Thực tình, tôi chẳng biết…
Không bao giờ!… hoặc có thể ngày mai!…
Nhưng không phải hôm nay… chắc chắn.
Tình yêu là con chim bất trị
Chẳng ai thuần hóa được nó đâu,
và gọi nó cũng chỉ uổng công
nếu nó đã định tâm cự tuyệt!
Chẳng tác dụng gì, cầu xin hay dọa nạt,
Kẻ này nói nhiều, người nọ nín thinh;
Và chính người nọ tôi ưa hơn,
Chàng không nói, nhưng làm tôi vui thích.
Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu!
Tình yêu là đứa con dòng Bohême,
Nó chẳng đời nào, chẳng đời nào biết luật,
nếu anh không yêu tôi, tôi yêu anh,
nếu tôi yêu anh, hãy coi chừng!
Con chim mà anh tưởng bắt được
Đã vỗ cánh và đã bay đi;
Tình yêu ở xa, anh có thể chờ mong.
anh không còn chờ, kìa nó đó.
Chỉ quanh anh thôi, nhanh nhanh lên chứ,
nó đến, nó bay, rồi lại quay về
anh tưởng tóm được, nó lẩn rồi,
anh tưởng nó lẩn rồi, anh tóm được!
Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu! Tình yêu!
Tình yêu là đứa con dòng Bôhême,
Nó chẳng đời nào, chẳng đời nào biết luật,
nếu anh không yêu tôi, tôi yêu anh,
nếu tôi yêu anh, hãy coi chừng! [na9 dịch]
|
La fleur que tu m’avais jetée
|
La fleur que tu m’avais jetée
dans ma prison m’était restée,
flétrie et sèche, cette fleur
gardait toujours sa douce odeur;
et pendant des heures entières,
sur mes yeux, fermant mes paupières,
de cette odeur je m’enivrais
et dans la nuit je te voyais!
Je me prenais à te maudire,
à te détester, à me dire:
pourquoi faut-il que le destin
l’ait mise là sur mon chemin!
Puis je m’accusais de blasphème,
et je ne sentais en moi-même,
je ne sentais qu’un seul désir,
un seul désir, un seul espoir:
te revoir, ô Carmen, oui, te revoir!
Car tu n’avais eu qu’à paraître,
qu’à jeter un regard sur moi,
pour t’emparer de tout mon être,
ô ma Carmen!
Et j’étais une chose à toi!
Carmen, je t’aime!
|
Bông hoa em đã ném tôi
Ở trong tù tôi gìn giữ,
Bông hoa này phai tàn khô héo
Vẫn giữ lại hương thơm ngọt ngào;
Và trong mọi thời khắc của mình.
Lúc tôi nhìn hay nhắm mắt,
Bông hoa này làm tôi ngây ngất
Và trong đêm tôi thấy được em!
Tôi nhủ mình phải nguyền rủa em,
Phải căm ghét em và tự vấn:
Tại sao mà số phận phải thế
Đặt nàng trên con đường của ta!
Rồi buộc tội mình báng bổ thần linh,
Và trong tôi chỉ còn cảm thấy
Chỉ cảm thấy một ước ao duy nhất
Chỉ một hi vọng, một ước ao :
Được gặp lại em, phải, Carmen ơi
Vì em đã chỉ hiện ra để ném
Chỉ để ném một ánh nhìn vào tôi
Để xâm chiếm cả bản thân tôi,
Ôi Carmen của tôi!
Và với em, tôi có một điều!
Carmen, tôi yêu em! [na9 dịch]
|
Oui! Là-bas, là-bas dans la montagne
|
Oui! Là-bas, là-bas dans la montagne!
là-bas, là-bas tu me suivrais! Sur ton cheval tu me prendrais, et comme un brave à travers la campagne, en croupe, tu m’emporterais! Là-bas, là-bas dans la montagne, là-bas, là-bas tu me suivrais! tu me suivrais, si tu m’aimais! Tu n’y dépendrais de personne; point d’officier à qui tu doives obéir, et point de retraite qui sonne pour dire à l’amoureux qu’il est temps de partir! Le ciel ouvert, la vie errante, pour pays l’univers, et pour loi ta volonté! Et surtout la chose enivrante: la liberté! la liberté! |
Phải! Nơi đó, trong vùng núi đó!
Anh sẽ theo em tới nơi đó, anh ơi! Hãy để em cùng lên yên ngựa, Như một anh hùng, hãy vượt núi đồi, Hãy mang em đi, nào, hãy ra roi! Ở nơi đó, trong vùng núi đó! Anh sẽ theo em tới nơi đó, anh ơi! Anh sẽ theo em, nếu anh yêu em thật! Tự do của anh nào có giới hạn đâu Không có sĩ quan buộc anh tuân lệnh Không ai dám bảo trái tim say đắm Rằng đã đến giờ, anh phải biến đi rồi! Cuộc đời tự do, bầu trời rộng mở Luật lệ chỉ là ý muốn của anh thôi Và có một điều khiến ta say hơn rượu Là Tự do! Tự do! đang gọi mời. [Nina dịch] |
Richard Strauss đã tổng kết: “Nếu bạn muốn học về phối khí, đừng học theo các tổng phổ của Wagner mà hãy mở ra Carmen”. Carmen là một tác phẩm có màu sắc rực rỡ, đa dạng về giai điệu, được Bizet sử dụng tài tình để khắc hoạ nên tính cách và số phận của các nhân vật. Bizet lấy cảm hứng chủ yếu từ âm nhạc dân gian Tây Ban Nha, điều mà rất nhiều nhà soạn nhạc Pháp như Lalo, Debussy, Chabrier hay Ravel đã thực hiện. Carmen đã phơi bày hiện thực xã hội, miêu tả cuộc sống của những con người ở tầng lớp dưới trong xã hội khiến tác phẩm thậm chí được coi là cầu nối đến trường phái verismo sẽ thịnh hành ở Ý và châu Âu vào cuối thế kỷ 19. Nhân vật Carmen, về mặt tinh thần và âm nhạc, có thể là sự hiện thực hóa niềm khao khát vô thức của nhà soạn nhạc đối với sự tự do. Nhà phê bình âm nhạc Harold C. Schonberg ví Carmen như “một Don Giovanni nữ. Cô ấy thà chết chứ không tự lừa dối mình”. Còn nhà âm nhạc học Hugh Macdonald nhận xét rằng “opera Pháp không bao giờ sản sinh ra một nữ chính nào khác như Carmen” và rằng “Các giai điệu không thể nào quên của Bizet sẽ giữ cho âm nhạc của Carmen tồn tại vĩnh viễn”. Rất nhiều nhà soạn nhạc khác đã lấy Carmen làm đề tài cho tác phẩm của mình như Sarasate, Waxman hay Shchedrin.
Cobeo tổng hợp



