Thông tin tác phẩm

Tác giả: Modest Mussorgsky.
Tác phẩm: Những bức tranh trong phòng triển lãm
Thời gian sáng tác: Năm 1874.
Độ dài: Khoảng 35 phút.
Cấu trúc tác phẩm:
Tác phẩm gồm 5 khúc dạo miêu tả cuộc dạo bước trong hành lang phỏng triển lãm và 10 chương nhạc miêu tả các bức tranh dành cho piano độc tấu. Những khúc dạo và các chương nhạc được chơi xen kẽ nhau.

Hoàn cảnh sáng tác “Những bức tranh trong phòng triển lãm”

Hoạ sĩ, kiến trúc sư Viktor Hartmann (1834-1873) là bạn thân của Mussorgsky. Lần đầu họ gặp nhau được cho là vào khoảng năm 1868 tại nhà của một người bạn chung, nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng Vladimir Stasov. Hartmann rất yêu thích các sáng tác của Mussorgsky và tặng nhà soạn nhạc 2 bức tranh, sau này cũng được Mussorgsky đưa vào trong tác phẩm Những bức tranh trong phòng triển lãm của mình.

Sự qua đời của Hartmann vào ngày 4/8/1873 vì chứng bệnh phình động mạch ở tuổi 39 đã gây ra một sự rúng động đối với đời sống nghệ thuật nước Nga nói chung và Mussorgsky nói riêng. Mussorgsky đã chìm sâu vào đau buồn trong một khoảng thời gian dài. Tháng 2/1874, Stasov đứng ra thực hiện một triển lãm với hơn 400 tác phẩm bao gồm các bức tranh, thiết kế kiến trúc, trang phục cũng như các phác thảo của Hartmann tại Học viện Nghệ thuật hoàng gia tại Saint Petersburg. Mussorgsky cũng đưa tới 2 bức tranh mà ông đã được tặng trước đó đồng thời trực tiếp tham dự triển lãm. Sáu tuần sau đó, ông đã viết cho Stasov: “Bạn quý mến của tôi! Hartmann đang sôi sục khi Boris sôi sục – âm thanh và ý tưởng trong đầu tôi nhưng tôi hầu như không thể viết chúng ra trên giấy… Sự chuyển đổi rất tốt của Khúc dạo… Tôi muốn làm việc một cách nhanh chóng và đáng tin cậy hơn… cho đến nay, tôi nghĩ mọi việc tiến triển tốt”. Boris ở đây chính là vở opera Boris Godunov của Mussorgsky, một tác phẩm mà Hartmann rất yêu thích.

Ngày 22/6/1874, Mussorgsky đã hoàn thành tác phẩm Những bức tranh trong phòng triển lãm dành cho piano độc tấu. Từ trong hơn 400 tác phẩm của Hartmann, ông đã lựa chọn ra 11 tác phẩm để đưa vào sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông cũng thêm vào 5 khúc dạo Promenade miêu tả một vị khách tham quan, trong trường hợp này chính là bản thân nhà soạn nhạc (được ông thừa nhận trong một bức thư sau đó), đi dạo quanh phòng triển lãm. Âm nhạc của 5 khúc Promenade này khá mạnh mẽ phản ánh vóc dáng đồ sộ của nhà soạn nhạc Mussorgsky, vốn nặng khoảng 300 pound (khoảng 136 kg).

Trên thực tế, cho đến ngày nay, rất nhiều tác phẩm của Hartmann đã bị thất lạc, chỉ còn 6 trên tổng số 11 tác phẩm được Mussorgsky nhắc đến là còn tồn tại. Các đoạn Promenade được đưa vào như để miêu tả tâm trạng của chính nhà soạn nhạc như Stasov nhận xét: “Ông tưởng tượng như đang đi lang thang khắp phòng triển lãm, lúc nhàn nhã, lúc nhanh nhẹn để đến gần một bức tranh thu hút sự chú ý của mình và đôi khi buồn bã khi nghĩ đến người bạn đã mãi ra đi”. Tên các chương nhạc được Mussorgsky viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau: Pháp, Ba Lan, Ý, Nga… nhằm mục đích thể hiện chính xác nguồn gốc tác phẩm của Hartmann, vốn được hoàn thành tại nhiều nơi bên ngoài nước Nga.

Những bức tranh trong phòng triển lãm Victok Hartmann

Phân tích tác phẩm “Những bức tranh trong phòng triển lãm”

Bản nhạc mở đầu với khúc Promenade đầu tiên được ghi chú nel modo russico (theo phong cách Nga). Một phong cách chân dung tự hoạ, miêu tả Mussorgsky bước vào sảnh lớn của Học viện Nghệ thuật hoàng gia. Giai điệu đơn giản, được chơi lặp đi lặp lại khắc hoạ hình ảnh nhà soạn nhạc đi từ bức tranh này tới bức tranh khác, giai điệu này cũng tương tự ở các Promenade sau đó nhưng mang những sắc thái và tính chất âm nhạc khác nhau. Nhịp điệu rất bất thường, bắt đầu với 5/4 và rồi nhanh chóng được chuyển sang 6/4.

Tác phẩm đầu tiên được Mussorgsky đề cập đến là Chú lùn (Gnomus), đã bị thất lạc. Stasov miêu tả: “Một phác hoạ miêu tả một chú bé người lùn nhỏ, chạy một cách vụng về với đôi chân cong queo”. Âm nhạc réo rắt, nhịp điệu tương phản, miêu tả chuyển động của chú lùn. Stasov cho rằng cảm hứng của chương nhạc đến từ một chiếc kẹp hạt dẻ.

Khúc Promenade thứ hai xuất hiện nhưng nhẹ nhàng hơn dẫn dắt tới tác phẩm thứ hai Lâu đài cổ (Il vecchio castello). Mặc dù tác phẩm này cũng bị thất lạc nhưng dường như Mussorgsky đã tưởng tượng ra khung cảnh Ý, không chỉ vì tiêu đề được chính ông đề bằng tiếng Ý mà còn về nhịp điệu siciliano nhẹ nhàng đặc trưng của chương nhạc. Stasov nhận xét: “Một lâu đài thời trung cổ mà ở phía trước một người hát rong đang hát”. Hartmann thường có thói quen vẽ các hình người trong các thiết kế kiến trúc của mình để gợi ý về quy mô bản vẽ.

Khúc Promenade thứ ba ngắn gọn (chỉ với 8 ô nhịp), nhưng âm nhạc trở nên mạnh mẽ hơn. Tác phẩm thứ ba được Mussorgsky nhắc đến ở đây là vườn Tuileries, một địa danh nổi tiếng gần bảo tàng Louvre, Paris với chú thích “Lũ trẻ cãi nhau sau trò chơi”. Tác phẩm gốc là một bức tranh bằng bút chì màu vẽ vườn Tuileries với hình ảnh những chú bé chơi đùa với người bảo mẫu của chúng. Tuy nhiên, ngày nay bức tranh cũng đã bị mất. Âm nhạc vui vẻ, gợi nhớ đến những trò chơi của trẻ em.

Tác phẩm thứ tư được chú thích bằng tiếng Ba Lan Bydlo (Gia súc) được Stasov nhận xét: “Một chiếc xe chở hàng với những chiếc bánh xe to, được bò kéo”. Chương nhạc được viết ở dạng 3 đoạn ABA với 1 coda. Trong phiên bản gốc của mình, Mussorgsky bắt đầu với cường độ fortissimo (ff) nhằm miêu tả cận cảnh chuyến xe bắt đầu hành trình của mình, âm nhạc được đẩy đến cao trào (con tutta forza) rồi đến một đoạn diminuendo và kết thúc rất khẽ khàng pianississimo (ppp) khi chiếc xe đã dần rời xa. Tuy nhiên ở phiên bản chỉnh sửa của Rimsky-Korsakov cũng như bản phối cho dàn nhạc của Ravel, âm nhạc lại bắt đầu tĩnh lặng, rồi âm lượng tăng dần đến fortissimo rối tiếp nối đến diminuendo, mang hình ảnh một chiếc xe từ xa tiến lại, lướt qua và dần biến mất. Rất tiếc, tác phẩm này hiện tại cũng chưa được tìm thấy.

Khúc Promenade thứ tư dẫn dắt người nghe tới 2 bức tranh sau đó. Bức đầu tiên được chú thích bằng tiếng Nga có nghĩa Vở ballet của những chú gà không nở”. Theo Stasov, âm nhạc của Mussorgsky được lấy cảm hứng từ một thiết kế trang phục của Hartmann cho vở ballet Trilby. Đó là một sáng tác của Yuli Gerber, biên đạo múa Marius Petipa, được đoàn ballet của Nhà hát lớn hoàng gia Moscow lần đầu công diễn vào năm 1870, năm 1871 được trình diễn tại Saint Petersburg. Chương nhạc có hình thức 3 đoạn.

Chương nhạc thứ sáu là chương nhạc duy nhất miêu tả 2 bức tranh. Samuel Goldenberg và Schmuÿle cũng chính là 2 tác phẩm mà Hartmann đã tặng cho Mussorgsky, có lẽ Mussorgsky là người đặt tên cho chúng. Stasov nhận xét: “Mussorgsky rất yêu thích với biểu cảm của 2 bức tranh. Một người Do Thái giàu và một người Do Thái nghèo”. Đầu tiên chúng ta gặp người giàu Samuel Goldenberg, âm nhạc thấp trầm, đầy quyền uy. Còn với người nghèo Schmuÿle, âm nhạc đầy những nốt lặp đi lặp lại nhằm miêu tả sự rùng mình của anh ta dưới trời lạnh giá. Hai bức tranh này hiện vẫn còn được lưu giữ.

Khúc Promenade cuối cùng gần như giống hệt khúc đầu tiên, chỉ có một chút khác biệt nhỏ ở phần sau với những hợp âm đầy đủ hơn. Sau đây, sẽ không còn bất kỳ gián đoạn nào chen vào giữa những bức tranh nữa. Tuy nhiên giai điệu chủ đề của Promenade sẽ không mất đi mà được lồng ghép vào các chương nhạc sau đó. Tác phẩm tiếp theo đưa chúng ta tới miền Nam nước Pháp, một khu chợ ở thị trấn Limoges. Bức tranh cho chương nhạc này đã bị mất, nhưng Stasov cho chúng ta biết âm nhạc minh họa “đám đông đang la hét, tranh chấp, nói chuyện phiếm và cãi vã trong chợ”. Về mặt âm nhạc, có thể coi đây là một scherzo.

Chương nhạc thứ tám được chia làm 2 phần rõ rệt, đưa chúng ta từ thế giới của người sống đến thế giới của người chết. Chương nhạc có tiêu đề bằng tiếng La tinh: “Catacombae: Sepulchrum Romanum” (Hầm mộ: Mộ của người La Mã). Bức tranh bằng màu nước của Hartmann miêu tả các hầm mộ của Paris, nơi lưu giữ hơn 6 triệu bộ hài cốt. Bức tranh miêu tả hai người đàn ông đội mũ thì thầm với nhau (được cho là Hartmann và Vasily Kenel (một kiến trúc sư người Nga)) và một người cầm đèn lồng dẫn đường với mấy hàng đầu lâu phía sau. Có lẽ bức tranh đã gợi lên cho Mussorgsky những ký ức buồn bã về sự qua đời của Hartmann. Âm nhạc với nhiều những hợp âm bất hoà vang lên, gợi lên sự hùng vĩ, tĩnh lặng và âm vang của hầm mộ. Phần sau được Mussorgsky ghi chú bằng bút chì trong tổng phổ: Cum mortuis trong lingua mortua (Với người chết bằng ngôn ngữ chết chóc), chủ đề Promenade được tái hiện.

Tâm trạng buồn bã ngay lập tức bị phá vỡ bằng chương nhạc tiếp theo: Túp lều trên chân của một con gà mái (Baba Yaga). Trong văn hoá dân gian Nga, Baba Yaga là một phù thuỷ, bay trên cối và chày, tìm kiếm trẻ con để ăn thịt. Mụ phù thuỷ sống trong một túp lều được dựng lên trên chân của một con gà. Chương nhạc lấy cảm hứng từ một thiết kế của Hartmann về một chiếc đồng hồ được trang trí công phu với hình dạng của túp lều Baba Yaga. Trong phần scherzo này, chúng ta có thể nghe thấy tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ, một biểu tượng truyền thống khác của cái chết. Âm nhạc gợi nhắc lại chương Chú lùn (Gnomus).

Chương cuối Cổng lớn ở Kiev được Stasov miêu tả: “Một phác thảo của Hartmann về thiết kế chiếc cổng thành Kiev theo phong cách đồ sộ của Nga cổ đại với một mái vòm có hình dáng của một chiếc mũ bảo hiểm Slav”. Thiết kế này của Hartmann đã giành chiến thắng trong một cuộc thi nhưng kế hoạch thực hiện nó sau đó đã bị huỷ bỏ. Chủ đề chính “cái cổng” được xen kẽ với bài thánh ca đạo Chính thống Nga “Khi bạn được Chúa rửa tội”. Âm thanh đặc trưng của tiếng chuông nhà thờ Nga vang lên với chủ đề Promenade trở lại. Cùng với đó là sự hoành tráng của nghi lễ, tiếng tụng kinh của linh mục, tiếng chuông ngân vang tạo nên một khung cảnh hùng vĩ cho cái kết của tác phẩm.

Cũng giống như hầu hết những tác phẩm khác của Mussorgsky, Những bức tranh trong phòng triển lãm có một lịch sử xuất bản khá phức tạp. Mặc dù được hoàn thành vào tháng 6/1874 nhưng phải đến năm 1886, năm năm sau khi nhà soạn nhạc qua đời, bạn của ông, Rimsky-Korsakov mới cho xuất bản tác phẩm này. Tuy nhiên, ấn phẩm này không hoàn toàn đúng với những gì Mussorgsky đã viết mà Rimsky-Korsakov đã có chỉnh sửa một số điểm. Chỉ đến năm 1931, nhân kỷ niệm 50 năm ngày qua đời của Mussorgsky, tổng phổ gốc của tác phẩm mới được xuất bản.

Ngoài phiên bản gốc dành cho piano độc tấu, Những bức tranh trong phòng triển lãm còn có rất nhiều phiên bản phối lại cho dàn nhạc cũng như những nhạc cụ khác. Tuy nhiên phiên bản dành cho dàn nhạc của Ravel được thực hiện vào năm 1922 là nổi tiếng và được trình diễn nhiều nhất.

Ngọc Tú (nhaccodien.info)

Xem những bức tranh trong phòng triển lãm của Hartmann

Bình luận Facebook