“Mặc dù tôi là một nghệ sĩ piano nhưng với tôi, cây đàn piano ít cuốn hút hơn chính bản thân âm nhạc.” – Rudolf Serkin
Là một trong số ít những nghệ sĩ có thể kết hợp được tới tận cùng giữa tâm hồn và trí tuệ, cái tên Rudolf Serkin luôn ở vị trí nổi bật trong số những nghệ sĩ piano của thế kỷ 20. Nghệ thuật biểu diễn của ông không hề quyến rũ, ông chưa bao giờ chơi đàn một cách thật sự êm ái hay cố gắng tạo ra những sắc thái tình cảm một cách uỷ mị. Serkin tiếp cận với các tác phẩm một cách xù xì và gai góc, ông không bao giờ cố gắng làm dịu đi âm nhạc. Ông không hề cảm thấy cần thiết làm âm nhạc đẹp hơn mà ngược lại, Serkin khuyến khích người nghe tìm thấy sự hoàn mỹ ở trong chính những sự thô ráp đó. Với ông, sự thật phải luôn là sự thật và không cần che đậy dưới bất kỳ bề mặt nào. Và thêm một điểm nữa với Serkin, ông luôn tin tưởng vào tâm hồn và trí tuệ của mình, kiên định theo đuổi con đường đã lựa chọn trong suốt cuộc đời.
Rudolf Serkin sinh ngày 28/3/1903 tại Cheb (Eger), Bohemia (nay là Cộng hoà Czech), là đứa trẻ thứ năm trong số tám người con của một gia đình gốc Nga-Do Thái. Ngay từ khi còn nhỏ Rudolf đã nổi danh là thần đồng khi chỉ mới 4 tuổi, cậu đã có thể đọc bản nhạc và chơi piano. Chính cha cậu, ông Mordko Serkin, vốn là một ca sĩ giọng bass, người coi tài năng trong âm nhạc là di sản gia truyền, đã dạy cậu học nhạc trước khi học chữ. Đứng trước hai lựa chọn piano và violin, Rudolf đã lựa chọn piano vì không muốn âm nhạc vang lên quá gần tai mình. Buổi biểu diễn đầu tiên của Rudolf đến khi cậu mới hơn năm tuổi với Impromptu số 2 giọng Mi giáng trưởng, D. 899 của Franz Schubert. Chín tuổi, cậu cùng gia đình chuyển đến sinh sống tại Vienna. Ông Mordko là một doanh nhân nhưng, như Serkin nói, “một doanh nhân tồi, đã phá sản… bốn lần”. Cuộc sống của gia đình Serkin tại Vienna rất vất vả, cả gia đình 10 người chen chúc trong căn hộ một phòng. Tại đây, nghệ sĩ piano Alfred Grünfeld nghe Rudolf chơi đàn và đã thuyết phục cha mẹ cậu để Rudolf đến học piano với bạn của mình là Richard Robert, nhà sư phạm rất nổi tiếng. Một học trò khác của Robert là George Szell, người sau này trở thành nhạc trưởng xuất sắc và giữa Szell với Serkin đã có một sự hợp tác bền vững trong nhiều năm. Ngoài ra nữ nghệ sĩ piano danh tiếng người Romania Clara Haskil cũng từng có thời gian theo học với Robert. Cũng trong giai đoạn này, cậu theo học sáng tác với Joseph Marx và Arnold Schoenberg và từng cho xuất bản một tứ tấu dây của mình. Rudolf không được học văn hoá một cách chính quy và phải đi đánh giày để phụ giúp gia đình, rất khốn khó: “Bánh mì được trộn với mùn cưa. Một người chị của tôi chết vì lao”.
Mặc dù thật khó để tập luyện khi cùng sống trong một căn phòng với bảy anh chị em của mình nhưng Rudolf đã biết gạt bỏ mọi ầm ĩ xung quanh để tập trung vào công việc chơi đàn. Chỉ 12 tuổi, Rudolf đã có được buổi ra mắt đầu tiên của mình cùng với Vienna Symphony Orchestra trong Concerto piano số 1 của Felix Mendelssohn, tác phẩm sẽ theo cậu trong suốt cuộc đời. Tuy nhận được nhiều lời mời biểu diễn nhưng cha của Rudolf đều từ chối vì muốn con mình trau dồi hơn nữa khả năng chơi piano. Thần tượng của Rudolf lúc này là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano lừng danh người Ý Ferruccio Busoni. Vào cuối giai đoạn học với Robert, với mong muốn được theo học Busoni, Rudolf đã chơi đàn cho ông nghe. Busoni từ chối dạy chàng trai trẻ vì cho rằng Rudolf đã quá tuổi để học với mình nhưng ông khuyên cậu hãy biểu diễn nhiều nhất có thể. Điều này ngay lập tức xảy ra khi Rudolf gặp nghệ sĩ violin danh tiếng Adolf Busch, một cuộc hội ngộ của định mệnh tại ga tàu. Mặc dù hơn Rudolf tới 12 tuổi, nhưng Busch tỏ ra rất ngưỡng mộ chàng trai trẻ, ông ngỏ ý mời cậu cộng tác và chuyển đến sống với gia đình ông. Rudolf ngay lập tức nhận lời và cùng với Busch cũng như Busch Quartet, nhóm nhạc do Busch thành lập gồm Busch (violin), Gösta Andreasson (violin), Karl Doktor (viola) và Paul Grümmer (cello), Rudolf dấn thân vào con đường biểu diễn chuyên nghiệp. Với sự tham gia của Serkin, Busch Quartet đổi tên thành Busch Chamber Players. Họ đã có buổi biểu diễn đầu tiên với nhau tại Berlin vào năm 1921 với Brandenburg concerto số 5 của Johann Sebastian Bach. Serkin nhớ lại: “Lúc đó tôi 17 tuổi. Cuối buổi hoà nhạc, vì chương trình thành công rực rỡ, Busch đẩy tôi ra ngoài và bảo tôi nên trình diễn thêm. Tôi hỏi: ‘Tôi nên chơi gì?’ Ông ấy đùa: ‘Biến tấu Goldberg’ (tác phẩm này mất tới hơn nửa giờ để biểu diễn.) Và tôi đã tưởng thật. Khi kết thúc, trong khán phòng chỉ còn lại bốn người: Adolf Busch, Arthur Schnabel, Alfred Einstein và tôi”. Trong khoảng mười năm sau đó, Serkin đã biểu diễn tại hầu hết những nhà hát quan trọng tại châu Âu và gây được ấn tượng tốt đẹp tới khán giả bằng một phong cách mãnh liệt và dữ dội.
Năm 1927, khi chủ nghĩa phát xít ngày một bành trướng thế lực của mình tại Đức, Serkin và gia đình Busch chuyển đến sinh sống tại Basel và nhập quốc tịch Thuỵ Sĩ. Năm 1931, Serkin biểu diễn tại Berlin. Trong số khán giả có nhà phê bình âm nhạc Hubert F. Peyser của New York Times, người đã nhận xét: “Serkin không phải là một nghệ sĩ thiên về cảm xúc, tuy nhiên ông có thể tạo ra tiếng sấm và ánh sáng chói loà một cách tuyệt vời nhất… Ẩn dưới cái tên Rudolf Serkin là một trong những nghệ sĩ piano uy nghiêm nhất thời đại chúng ta”. Năm 1933, lần đầu tiên Serkin ra mắt khán giả Mĩ khi ông xuất hiện tại Coolidge Festival, Library of Congress, Washington. Tuy nhiên ông chỉ thực sự gây được ấn tượng mạnh mẽ tại đây khi ông xuất hiện cùng Arturo Toscanini và New York Philharmonic vào ngày 20/2/1936 với hai tác phẩm Concerto piano số 4 của Ludwig van Beethoven và Concerto piano số 27 của Wolfgang Amadeus Mozart. Serkin nhớ lại: “đó là một trong những khoảnh khắc thăng hoa nhất đời tôi dù nó khiến tôi vô cùng sợ hãi)”. Các nhà phê bình đã miêu tả ông: “Một nghệ sĩ với tài năng khác thường, những tiếng đàn trong vắt như pha lê, một sức mạnh tràn đầy, sự duyên dáng và tinh khiết”. Dù vậy, Serkin vẫn cảm thấy cách xử lý các quãng tám của mình chưa thực sự như ý. Cũng trong năm này, ông kết hôn với Irene, con gái của Adolf Busch và là một nghệ sĩ violin và viola tài ba, người khi 4 tuổi từng tuyên bố rằng mình sẽ lấy thiên tài piano trong tương lai. Ngày 11/1/1937, Serkin có chương trình độc tấu đầu tiên của riêng mình tại Carnegie Hall. Nhà phê bình Olin Downes nhận xét: “Một nhà diễn thuyết khác thường với vóc dáng gày gò và mảnh khảnh. Một sức mạnh đầy kích thích toát ra ngay khi ông bước đến bên piano. Ông chơi đàn thật đặc biệt, luôn luôn toát ra sự cao quý và bộc lộ những cảm xúc mạnh mẽ nhất”. Một năm sau đó, Serkin và Busch đã biểu diễn toàn bộ sonata violin của Beethoven tại Town Hall.
Chủ nghĩa phát xít leo thang, Serkin chuyển đến sinh sống hẳn tại Mĩ. Ông định cư tại Philadelphia và trở thành giảng viên rồi sau đó là trưởng khoa piano tại Curtis Institute of Music. Dù vậy, hàng năm ông vẫn thường xuyên tổ chức các chuyến lưu diễn trên khắp nước Mĩ, chủ yếu với các tác phẩm của Beethoven và Franz Schubert. Thập niên 30 cũng chứng kiến những bản thu âm đầu tiên của Serkin. Trong số này có những đĩa nhạc đáng chú ý như Sonata piano số 23 “Appassionata” của Beethoven (được miêu tả “mạnh mẽ, kịch tính và khiến ta tin rằng có một sợi dây vô hình ràng buộc giữa nghệ sĩ và tác giả”) hay Trio piano số 2 của Schubert với sự hợp tác của Adolf Busch và em trai Hermann Busch, tất cả đều được thực hiện với hãng ghi âm HMV. Năm 1939, ông nhập quốc tịch Mĩ. Hồi tưởng lại quãng đường đã qua của mình, Serkin thú nhận ba người có ảnh hưởng lớn nhất cho sự phát triển của mình là Adolf Busch, Arnold Schoenberg và Arturo Toscanini.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Serkin không quay trở về châu Âu mà ở lại Mĩ để tiếp tục công việc giảng dạy và biểu diễn. Nếu trong thời kỳ trước, Serkin quan tâm đến âm nhạc của Beethoven và Schubert thì giai đoạn này, các tác phẩm của Johannes Brahms, Robert Schumann và Mozart tỏ ra rất cuốn hút ông. Dù rằng nước Mĩ giai đoạn này xuất hiện nhiều nghệ sĩ piano vĩ đại mà tiêu biểu là Arthur Rubinstein và Vladimir Horowitz nhưng Serkin vẫn nằm trong số những cái tên nổi bật và được chú ý nhất. Năm 1951, cùng với những đồng nghiệp của mình là anh em nhà Busch, Blanche Moyse, Louis Moyse và Marcel Moyse, ông thành lập Liên hoan Âm nhạc Marlboro tại Vermont. Tại đây vào mùa hè, các nghệ sĩ cùng nhau hoà tấu các tác phẩm thính phòng đồng thời có những buổi giảng dạy và hội thảo với các sinh viên ưu tú. Serkin đảm nhận cương vị giám đốc nghệ thuật của Liên hoan Âm nhạc Marlboro cho đến khi ông qua đời. Ông đã tổ chức Marlboro thành một trong những liên hoan âm nhạc uy tín nhất, là thánh địa của âm nhạc thính phòng Mỹ, nơi thu hút tài năng khắp nơi trên thế giới tham gia như Pablo Casals, Alexander Schneider, Jaime Laredo hay Eugene Istomin. Serkin cùng với nghệ sĩ cello huyền thoại Casals đã có được sự hợp tác tích cực trong nhiều năm mà đỉnh cao là các đĩa nhạc thu âm trọn bộ sonata cello của Beethoven. Tại Marlboro, Serkin trở thành tâm điểm giữa các đồng nghiệp. Ông không nề hà bất cứ việc gì để giúp đỡ họ, kể cả việc giở trang nhạc trong các buổi biểu diễn. Serkin luôn được bạn bè nhớ tới như là một con người chân thành, nhiệt tình và không hề tỏ ra là một người nổi tiếng. Một đồng nghiệp lâu năm nhận xét về Serkin: “Không thể nói về bất kì ai là thánh thiện trong thời đại này, nhưng Serkin là một người như vậy”.
Mặc dù rất bận rộn với các công việc tại Curtis Institute of Music và Liên hoan Âm nhạc Marlboro nhưng hàng năm Serkin vẫn đều đặn thực hiện các chuyến lưu diễn tại châu Âu và Bắc Mĩ. Theo năm tháng, phong cách chơi piano của ông ngày càng được định hình và khắc hoạ rõ nét. Khi những ngón tay của Serkin lướt trên phím đàn, người nghe có cảm giác ông và piano đang tạo ra một cuộc chiến khốc liệt mà cuối cùng ông là người chiến thắng. Trái ngược với một nền tảng kĩ thuật gây choáng ngợp của Horowitz hay sự ngọt ngào lãng mạn toát ra từ tiếng đàn của Rubinstein khiến chúng ta cảm thấy như được tiếp thêm sinh lực thì Serkin luôn tấn công không màu mè, hoa mĩ vào tác phẩm và kiểm soát rất tốt những xúc cảm quá uỷ mị. Lắng nghe ông chơi đàn, người nghe chắc chắn sẽ trải qua cảm giác căng thẳng và dữ dội nhưng khi kết thúc thì đọng lại sự hân hoan và hứng khởi. Với Serkin, không gì quan trọng hơn đối với một buổi biểu diễn là sự thoả mãn của khán giả. Ông từng tâm sự: “Tôi tin vào sự hoà hợp trong âm nhạc. Tôi không tin quá nhiều vào phong cách. Nếu buổi biểu diễn không tạo cho bạn sự xúc động, đó là một buổi biểu diễn tồi”. Trong các năm 1957 và 1959, Serkin cùng nhạc trưởng Eugene Ormandy, Philadelphia Orchestra và Columbia Symphony Orchestra tiến hành thu âm hai concerto piano của Mendelssohn, một trong những đĩa nhạc mà ông hài lòng nhất. Ông không hề dễ dãi trong việc lựa chọn tác phẩm, danh mục biểu diễn của ông không đồ sộ như nhiều nghệ sĩ cùng thời nhưng có lẽ chính vì vậy, Serkin luôn có sự tìm tòi, nghiên cứu vô cùng sâu sắc trong mọi bản nhạc ông chơi. Dù thỉnh thoảng có ghé qua Frédéric Chopin, Sergei Prokofiev, Béla Bartók, thậm chí là cả Max Reger (năm 1959, Serkin là nghệ sĩ đầu tiên thu âm bản concerto piano của Reger) nhưng bản sắc của Serkin nằm ở Vienna Mozart, Beethoven, Schubert và Brahms. Ngoài ra còn Bach, người duy nhất không có liên hệ với thánh đường âm nhạc này.
Một phần không thể thiếu trong di sản của Serkin là các tác phẩm của Beethoven. Dù vậy chưa bao giờ ông biểu diễn hay ghi âm trọn bộ 32 sonata piano. Năm 1970, ông đã lên kế hoạch trình tấu trọn bộ những tác phẩm này trong tám recital tại Carnegie Hall. Tuy nhiên, chỉ 18 bản được biểu diễn và phần còn lại đã bị huỷ bỏ. Serkin luôn tìm được nguồn cảm hứng khác thường trong các sonata piano của Beethoven. Cách diễn giải âm nhạc Beethoven của Serkin không phải là mang đến cho người nghe vẻ đẹp hời hợt bên ngoài, mà đó là sự truyền tải một hỗn hợp nhất quán của tính logic, sự dữ dội và những cảm nhận siêu việt của ông về bản chất thực sự của chính những tác phẩm đó. Những xúc cảm mãnh liệt và sự cống hiến hết mình chính là những phẩm chất tốt đẹp mà Serkin mang theo trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình. Năm 1972, với Concerto piano số 1 của Brahms, Serkin có buổi biểu diễn lần thứ 100 cùng New York Philharmonic. Đây cũng là một tác phẩm mà Serkin đã để lại dấu ấn rất sâu sắc. Với bản thu âm cùng Szell và Cleveland Orchestra, Serkin đã trình diễn một tốc độ kinh hoàng gần như không thể tưởng tượng nổi trong chương I. Sự rõ ràng và lộng lẫy của các nốt móc kép thật hoàn hảo và không chê vào đâu được khiến đôi chút nghi ngờ về kĩ thuật có phần nào hạn chế của ông đã bị xua tan. Có lẽ, chính sự lơ đãng về diện mạo bên ngoài của tác phẩm đã giúp ông tập trung tối đa vào những xung đột nội tâm sâu sắc của chương nhạc. Chương II vốn được biết đến với vẻ lãng mạn và tràn đầy nhiệt tình đã được Serkin kiểm soát với sự tỉnh táo và lạnh lùng đầy khác biệt với đa số các nghệ sĩ piano khác. Còn chương III lại đem đến cho chúng ta niềm hứng khởi rạo rực của tuổi thanh xuân đầy nhiệt tình và đam mê.
Cũng trong năm 1972, ông trở thành thành viên danh dự của New York Philharmonic, dàn nhạc lâu đời nhất nước Mĩ, bên cạnh những cái tên như Igor Stravinsky, Paul Hindemith hay Aaron Copland. Với tư cách thầy giáo, Serkin cũng có những thành tựu đáng tự hào. Dưới sự dìu dắt của ông tại Curtis Institute of Music, nhiều sinh viên đã trở thành những nghệ sĩ piano nổi tiếng như Eugene Istomin, Richard Goode hay Peter Serkin – con trai ông. Serkin là một nghệ sĩ piano vĩ đại và còn là một con người vĩ đại hơn thế nữa. Ông khiêm nhường với sự cẩn trọng sâu sắc của một người đã hiến dâng cả đời mình cho những tác phẩm nghệ thuật siêu việt, và ông sở hữu sự dịu dàng đặc biệt của một tâm hồn đã được gột rửa, tinh luyện từ sự rực cháy mãnh liệt chất chứa trong những bản sonata cuối đời của Beethoven và Schubert. Với ông, chơi đàn piano chưa bao giờ là việc dễ dàng; nỗi đau của sự sáng tạo luôn có thể cảm nhận được mỗi khi ông toàn thân hoà mình vào một kiệt tác âm nhạc. Nhưng ngay từ thuở ấu thơ, không hề có chút nghi ngờ nào về việc ông sẽ dành trọn cuộc đời mình như thế nào. Trong sự nghiệp kéo dài 75 năm, ông chưa bao giờ chệch một nốt nhạc nào về mặt cảm xúc hay tinh thần, mặc dù đôi khi những ngón tay ông có thể lỡ chạm sai phím trong cơn say mê của màn trình diễn. Một trong những nhận xét chính xác nhất về Serkin là đánh giá của Harold Schonberg trong cuốn sách Những nghệ sĩ piano vĩ đại: “Thế kỷ này chưa từng chứng kiến một nghệ sĩ piano nào có sự chính trực và lý tưởng trong sáng hơn thế”.
Trong những năm 80 của thế kỉ 20, khi đã ở độ tuổi ngoài 80, các hoạt động nghệ thuật của Serkin không hề giảm sút. Ông cùng Claudio Abbado và London Symphony Orchestra đã tiến hành thu âm nhiều concerto piano của Mozart. Bên cạnh đó là các concerto piano của Beethoven được ông thực hiện với Seiji Ozawa và Boston Symphony Orchestra. Ngay cả ở độ tuổi này, Serkin vẫn thường xuyên biểu diễn những tác phẩm đồ sộ có độ khó bất thường, làm nản lòng ngay cả những nghệ sĩ trẻ tuổi như Biến tấu Diabelli (Beethoven). Năm 1986, một buổi lễ long trọng được tổ chức để kỉ niệm 50 năm ngày ông biểu diễn lần đầu tiên cùng New York Philharmonic. Sự nghiệp huy hoàng của ông khép lại sau các buổi biểu diễn Concerto piano số 5 “Emperor” của Beethoven cùng Cleveland Orchestra và Chicago Symphony Orchestra vào năm 1988. Serkin qua đời ngày 8/5/1991 tại nhà riêng ở Guilford, Vermont vì căn bệnh ung thư ở tuổi 88, để lại một sự nghiệp đáng kính trọng kéo dài hơn 70 năm. Cương vị giám đốc nghệ thuật của Liên hoan Âm nhạc Marlboro được trao lại cho Richard Goode và Mitsuko Uchida. Mstislav Rostropovich chia sẻ: “Tự hào rằng tôi đã có cả đặc ân và vinh dự lớn lao khi được chơi nhạc với Rudi trong tư cách là nhạc trưởng và nghệ sĩ cello… Ông ấy là linh hồn của văn hóa, uyên bác không chỉ trong âm nhạc mà còn trong nghệ thuật và văn học. Ông ấy đã tạo dựng phong cách riêng và các học trò của mình từ thời gian dài làm giám đốc Học viện Curtis, và Liên hoan Marlboro sẽ tiếp nối những ý tưởng âm nhạc của ông ấy”.
Ông là một trong những hình mẫu tiêu biểu cho lời mô tả của Schoenberg về “trường phái Đức” trong nghệ thuật chơi piano: “Tinh thần âm nhạc cẩn trọng, nghiêm khắc, coi trọng sức mạnh hơn là sự quyến rũ, tính vững chắc hơn là vẻ gợi cảm, trí tuệ hơn là bản năng, điềm tĩnh hơn là rực rỡ. Đó là một trường phái đề cao sự hoạch định và không để điều gì xảy ra một cách ngẫu nhiên”. Serkin đã bước vào hàng ngũ tinh hoa từ khi còn là thiếu niên và bằng sự luyện tập không ngừng, ông giữ vị thế nghệ sĩ hàng đầu suốt hơn nửa thế kỷ. Ông là đại diện xuất sắc của truyền thống Vienna, dung hoà giữa phong cách cổ điển và lãng mạn. Kỹ thuật của ông có thể làm say đắm lòng người, nhờ cả đời khổ luyện khắc kỷ. Ngay cả khi lớn tuổi, khi cách diễn giải của ông trở nên trầm lắng và hướng nội hơn, chế độ luyện tập hằng ngày vẫn nghiêm ngặt: ông thường nói rằng chỉ sau năm giờ khởi động, ông mới thực sự bắt đầu tập. Đôi tay ông to và nặng, các ngón cách xa nhau. Những ngón tay dày bất thường khiến việc chơi giữa những phím đen trở nên khó khăn. Vì thế ông không ngừng luyện gam và các hợp âm rải, khẳng định rằng việc hoàn thiện kỹ thuật không bao giờ là thừa. Chính vì vậy, Serkin đã vượt qua hạn chế tự nhiên để trở thành bậc thầy kỹ thuật và một nghệ sĩ có tầm vóc hiển hách, khiến đồng nghiệp phải kính nể và khán giả tôn thờ.
Dù để lại nhiều bản thu âm quý giá nhưng trên thực tế Serkin không hề hứng thú với công việc này. Con trai ông Peter cho biết: “Cha tôi ghét việc thu âm. Hoàn toàn ghét”. Và để đánh giá toàn diện tài năng phi thường của ông, chỉ căn cứ vào các bản thu là không đủ. Trên sân khấu, cảm xúc và cấu trúc của tác phẩm được ông thể hiện cân bằng hơn các bản thu âm, nhưng chính vì vậy khán giả lại được tiếp cận với nhiều điều mới lạ. Với Serkin, mỗi chương trình hoà nhạc là “một ngọn núi bạn phải leo”. Khi bước ra sân khấu, Serkin tiến đến bên piano theo đường chéo như một người dạy sư tử tiến lại gần con vật hoang dã nguy hiểm. Ông bước những bước ngắn, hầu như là chạy, mỉm cười lo lắng, ném những cái liếc nhanh lên trần và xuống sàn của phòng hoà nhạc như để tìm một lối thoát. Đôi mắt ẩn sau cặp kính dày và khi ông đặt tay lên dãy bàn phím piano, người nghe ngay lập tức bắt gặp những nốt nhạc ấm áp trong khoảnh khắc để rồi sau đó bất chợt một cơn bão âm thanh bùng nổ dẫn dắt chúng ta vào cơn mê hoặc kì lạ, những sự giằng xé mãnh liệt, cháy bỏng để rồi lắng đọng và nhường chỗ cho niềm hạnh phúc trào dâng. Và cũng giống như Glenn Gould, trong khi chơi đàn ông thường gầm gừ những âm thanh không liên quan tới giai điệu của piano. Thậm chí thỉnh thoảng Serkin còn tạo ra những sự chấn động đầy nguy hiểm cho chiếc ghế ông ngồi và đung đưa hai chân trong không khí trước khi dậm xuống pedal. Ông nhìn trừng trừng vào mọi thứ và rồi mỉm cười hạnh phúc. Tất cả những điều đó đã tạo nên diện mạo của Rudolf Serkin, nghệ sĩ piano kỳ diệu của thế kỷ 20.
Cobeo






