“Mariss Jansons là nhạc trưởng truyền cảm hứng tuyệt vời, người đã tạo ra cho chúng tôi vô số những khoảnh khắc diệu kỳ.” – Jan Raes

“Anh ấy là người xuất sắc nhất trong số chúng tôi”, đó là những lời Simon Rattle nhận xét về người đồng nghiệp Mariss Jansons của mình. Nỗi đau giằng xé trong những bản giao hưởng của Gustlav Mahler, những cao trào dồn dập trong các bản giao hưởng thơ của Richard Strauss, các chi tiết được gia công tinh xảo, mãnh liệt trong tất cả các tác phẩm: đó đều là những đặc điểm để xác định khả năng sáng tạo âm nhạc của ông, người luôn đẩy khả năng biểu cảm lên tới đỉnh điểm. Sự qua đời của Jansons vào năm 2019 vì căn bệnh tim là một mất mát lớn đối với nền âm nhạc cổ điển thế giới trong thế kỷ 21.

Là con trai của nhạc trưởng nổi tiếng Arvīds Jansons và ca sĩ opera của nhà hát Latvia Iraida Jansons, cậu bé Mariss sinh ngày 14/1/1943 tại Riga khi Đức Quốc xã đang chiếm đóng thành phố này trong Thế chiến thứ hai. Mariss đã có một tuổi thơ khó nhọc khi được sinh ra trong một khu ổ chuột khi mẹ cậu, một người Do Thái đang phải trốn chạy khỏi sự lùng bắt của quân đội Đức. Bố và các anh trai của Iraida đã bị giết chết. Với việc ông Arvīds là nhạc trưởng của Nhà hát opera Latvia và mẹ là ca sĩ giọng nữ cao, Mariss dành rất nhiều thời thơ ấu của cậu trong nhà hát. Ngay từ nhỏ, cậu đã rất quen thuộc với những vở opera và ballet. Và đó cũng là nơi khơi dậy những ước mơ âm nhạc đầu tiên trong cậu, được chơi violin trong dàn nhạc, nhảy múa và tất nhiên, chỉ huy dàn nhạc. Jansons vui vẻ nhớ lại: “Một lần cha tôi đưa tôi đi xem mẹ hát trong Carmen (Georges Bizet). Trong màn I, khi mọi người túm lấy Carmen và tống cô ta vào tù, tôi đã hét lên: “Không được động đến mẹ tôi!” Tôi bắt đầu khóc vì nghĩ rằng họ đã thực sự bắt bà ấy. Cha tôi phải đưa tôi ra khỏi khán phỏng vì xấu hổ”. Mariss có một nhà hát đồ chơi của riêng mình. Là con một, cậu dành hàng giờ đồng hồ ở đó, tự biểu diễn các tác phẩm cho riêng mình. Trên thực tế, các kỹ thuật chỉ huy của ông Jansons và đồng nghiệp đã ngấm vào cậu bé lúc nào không hay. Mariss thường đứng lên một chồng sách, mặc quần âu, áo sơ mi trắng, cầm một cái que từ đâu đó và bắt đầu công việc chỉ huy của mình. Jansons luôn khẳng định cha mẹ ông không bao giờ ép buộc ông trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp. Ông nhớ lại: “Nó đến một cách tự nhiên. Tôi nghĩ rằng trong tiềm thức, đó là thứ tôi luôn muốn trở thành”. Cậu cũng bộc lộ năng khiếu bóng đá, nhưng những lời mời mọc của một huấn luyện viên địa phương đã bị cha mẹ Mariss dập tắt. Ông Jansons bắt đầu dạy con trai mình chơi violin sau đó được gửi tới trường dạy violin xuất sắc nhất Latvia lúc đó, nơi mà sau này Gidon Kremer cũng theo học.

Cuộc sống của cậu đã thay đổi vào năm 1956 khi ông Jansons được bổ nhiệm làm trợ lý nhạc trưởng cho Evgeny Mravinsky tại Leningrad Philharmonic danh tiếng. Mariss được cho đi học violin và chỉ huy dàn nhạc tại Nhạc viện Rimsky-Korsakov, Leningrad. Tưởng như điều này phù hợp với sở thích và nguyện vọng của cậu. Tuy nhiên, mọi việc ban đầu diễn ra không suôn sẻ. Mariss đã khóc trên sân ga Riga khi cậu phải xa bạn bè, rời bỏ ngôi nhà đang rất hạnh phúc để đến sống tại một thành phố mà cậu chưa từng biết trước đó. Cậu đã bị cuốn vào một nền văn hoá mới khi còn rất bỡ ngỡ, học tập trong một nền giao dục có tính cạnh tranh cao hơn hẳn, đặc biệt khi cậu còn chưa thông thạo tiếng Nga (Latvia có hệ thống ngôn ngữ khác biệt). Sau này, Jansons nhớ lại: “Nó không dễ dàng như mọi người tưởng. Đó có lẽ là một trong những khó khăn lớn nhất trong đời, mặc dù mọi người rất nồng nhiệt và chào đón. Tôi học trong một môi trường có cấp độ giảng dạy cao hơn, với một ngôn ngữ mới mà tôi không hiểu. Cha tôi là một nhạc trưởng nổi tiếng. Tôi phải tạo được dấu ấn cá nhân của riêng mình. Tôi phải nghiêm túc, kỷ luật và làm việc rất chăm chỉ”. Thường thường, sau khi rời trường học, Mariss vẫn phải vùi đầu vào những giờ học dài và vất vả, thường kéo dài 4-5 tiếng với một gia sư riêng vì tiếng Nga quá tệ, không thể theo kịp những bài học trên lớp. Trong thời gian học tại Nhạc viện Rimsky-Korsakov, bên cạnh violin và chỉ huy dàn nhạc (thầy của ông là Nikolai Rabinovich), Jansons còn theo học viola và piano.

Năm 1969, Herbert von Karajan có chuyến lưu diễn và giảng dạy lớp master class về chỉ huy dàn nhạc tại Moscow và Leningrad. Chính quyền Xô viết đã tổ chức một lớp học với 12 sinh viên chỉ huy ưu tú nhất thời điểm đó. Karajan đã lựa chọn 2 người giỏi nhất là Mariss Jansons và Dmitri Kitayenko, đưa ra đề nghị cho họ theo học ông tại Berlin. Tuy nhiên, trong bối cảnh chiến tranh lạnh thời kỳ đó, giới chức Liên Xô đã từ chối. Jansons nhớ lại: “Tôi thấy thật khủng khiếp. Tôi thất vọng, tôi 25 tuổi. Tôi không thể làm bất cứ việc gì”. Tuy nhiên, những cố gắng của Jansons trong việc cố gắng thoát ra khỏi cái bóng của cha mình đã được ghi nhận. Tên của anh đứng đầu trong danh sách những sinh viên triển vọng được gửi tới Vienna học tập theo dạng trao đổi. Tại Vienna, Jansons theo học chỉ huy dàn nhạc với Hans Swarowsky, người từng đào tạo nên nhiều nhạc trưởng tên tuổi khác như Claudio Abbado, Zubin Mehta hay Giuseppe Sinopoli. Jansons thích thú với những hồi ức về tuổi trẻ rực rỡ của mình, kỷ niệm về sự tư do đầy phấn khích: “Thật tuyệt vời. Tôi đến các buổi tập và hoà nhạc mỗi ngày. Tất cả những người gác cửa đều biết tôi. Họ gọi tôi là người Nga điên rồ, họ cho tôi vào. Tất cả mọi người đều biết tôi”. Jansons đã liên lạc với Karajan và ông đã bảo anh tới Salzburg “ngay lập tức”. Jansons đã đến và trở thành trợ lý của Karajan trong lễ hội âm nhạc mùa hè tại đây mà không cần sự cho phép của bất kỳ ai. Jansons đã liên tục làm việc trong nhiều ngày liền, từ 9h sáng đến 11h đêm, như ông nhớ lại. Trong ông tràn ngập các ý tưởng và tâm trạng thì vô cùng tuyệt vời. Jansons và Karajan đã trải qua 3 mùa hè cùng nhau tại Salzburg.

Năm 1971, Jansons tham gia cuộc thi nhạc trưởng quốc tế mang tên Karajan lần thứ hai. Ông đã giành giải nhì với một chương trình rất nặng bao gồm từ Cổ điển tới Hiện đại. Người đoạn giải nhất là Gabriel Chmura, giải ba là Jiří Bělohlávek. Ngay sau cuộc thi, Karajan đã mời Jansons làm trợ lý nhạc trưởng cho mình tại Berlin Philharmonic. Tuy nhiên, một lần nữa ông lại bị chính quyền Xô viết ngăn trở. Lần này, thậm chí Jansons còn không được biết đến lời đề nghị. Jansons nhớ lại: “Lúc đó tôi thậm chí còn không biết rằng ông ấy đã mời tôi. Karajan rất tức giận, vì ông rất muốn tôi đến đó. Mãi sau này tôi mới biết chuyện gì đã xảy ra”. Một cánh cửa đóng lại thì một cánh cửa khác mở ra. Không được làm việc với Karajan nhưng Jansons lại được Mravinsky danh tiếng mời đúng công việc mà cha của ông đã từng đảm nhiệm trước đó, trợ lý nhạc trưởng tại Leningrad Philharmonic. Và Jansons trở thành người duy nhất trên thế giới từng là trợ lý của hai con người huyền thoại: Karajan và Mravinsky. Mravinsky đã dạy cho Jansons những bài học về sự nghiêm khắc, kỷ luật và sự mãnh liệt trong công việc: “Mravinsky không phải người dễ dãi. Tuyệt vời, chắc chắn rồi, nhưng vô cùng khó tính. Ông ấy khiến mọi người sợ hãi. Ông ấy không nói nhiều, luôn luôn nhìn vào họ, yêu cầu mọi người, yêu cầu bản thân. Và rất trầm ngâm, ông ngồi đó với bạn, thỉnh thoảng tới hàng giờ, chỉ suy nghĩ, không nói một lời. Tôi học được rất nhiều từ ông. Tôi luôn nghiêm túc và đòi hỏi theo cách như vậy”. Nhìn lại quãng thời gian đó, Jansons thấy rằng sự kỷ luật này đã mang lại cho ông những lợi ích to lớn, với Mravinsky, đó là niềm tin vào sự hiểu biết âm nhạc từ bên trong. Jansons luôn chú trọng vào việc nghiên cứu tác phẩm một cách kỹ lưỡng, chiêm nghiệm mọi sắc thái, mọi dòng của tổng phổ, cố gắng tìm hiểu mọi thứ có thể về tâm trạng của nhà soạn nhạc, suy nghĩ về mọi câu nhạc với sự tập trung cao độ. Ông đắm chìm vào bản nhạc, sống ở bên trong nó, mỗi một lần biểu diễn là một trải nghiệm mới mẻ cho bản thân ông và do dó, với cả nhạc công và khán giả.

Năm 1979, Đại sứ quán Na Uy đã đến gặp Bộ Văn hoá Liên Xô, đưa ra đề nghị mởi Jansons làm giám đốc âm nhạc của Oslo Philharmonic. Ban đầu, vẫn là những lời từ chối. Tuy nhiên, sau nhiều lần đấu tranh, Jansons đã nhận được cái gật đầu. Tuy nhiên, theo một cách khá kỳ quặc. Trong khoảng một thập kỷ sau đó, việc Jansons làm nhạc trưởng tại Oslo không được thừa nhận một cách công khai, mọi thứ chỉ được ngầm hiểu. Một năm, Jansons ở Oslo khoảng 10 tuần, lái xe qua lại giữa Na Uy và Latvia. Victor Lubermann, một thành viên của Leningrad Philharmonic và là bạn của bố Jansons cho biết: “Khi Mariss mới đến Oslo, dàn nhạc tại đây chỉ có chất lượng trung bình. Và cậu ấy đã biến nó thành dàn nhạc tốt nhất vùng Scandinavia, đó thật sự là điều kỳ diệu với những gì cậu ấy đã làm”. Một ví dụ tương tự đó là giữa Rattle và City of Birmingham Symphony Orchestra. Ở đó, giám đốc âm nhạc và dàn nhạc phát triển trong sự cộng sinh và hoàn thiện lẫn nhau. Với Oslo Philharmonic, Jansons đã học hỏi và cải thiện bản thân rất nhiều về mặt âm nhạc cũng như văn hoá: “Tôi không thích phương pháp độc tài, nhưng tôi không biết gì khác. Tôi biết tôi không thể ra lệnh ở đây, mọi thứ rất dân chủ, gần như vô lý, tất cả mọi người đều được trả như nhau cho dù giỏi đến đâu đi chăng nữa”. Jansons đã đấu tranh với chủ nghĩa bình quân cực đoan của Na Uy để những người giỏi nhất được trả cao hơn, yêu cầu chính phủ viện trợ nhiều hơn cho dàn nhạc, có được hợp đồng ghi âm đáng mơ ước với EMI và tổ chức lưu diễn tới nhiều nơi trên thế giới. Ông cho biết: “Chúng tôi đã lớn lên cùng nhau. Dàn nhạc và tôi, giống như anh chị em vậy. Chúng tôi là một gia đình”.

Với sự thành công vượt bậc của Oslo Philharmonic, tên tuổi Jansons đã được biết đến rộng rãi ở phương Tây. Năm 1992, ông được bổ nhiệm làm nhạc trưởng khách mời chính của London Philharmonic. Năm 1994, ông cùng Vienna Philharmonic biểu diễn tại Festival Salzburg. Danh tiếng của ông ngày một vang xa. Năm 1997, Jansons được Pittsburgh Symphony Orchestra mời làm giám đốc âm nhạc, thay thế cho Lorin Maazel nhưng vẫn giữ vị trí của mình tại Oslo. Một điều gây khá nhiên trong giới âm nhạc cổ điển lúc dó, bởi với tài năng của mình Jansons hoàn toàn có thể đảm nhận vị trí ở những dàn nhạc danh tiếng hơn. Mặc dù Pittsburgh Symphony Orchestra là dàn nhạc tốt, nhưng vẫn chưa phải ở tốp đầu. Những người thân cận với Jansons cho rằng, khi đó ông vẫn cho rằng mình đang trong quá trình khám phá – trong trường hợp này là nước Mỹ – và tiếp tục được là nhạc trưởng khách mời nên vẫn có cơ hội được làm việc với những dàn nhạc hàng đầu thế giới như Vienna Philharmonic hay Berlin Philharmonic. Steven Wright, người đại diện cho Jansons cho biết: “Ông ấy rất thận trọng khi lựa chọn đảm nhiệm công việc mà ông ấy chưa sẵn sàng. Khi Jansons đồng ý làm việc cho một dàn nhạc lớn thì tôi chắc chắn sẽ có một dàn nhạc lớn ký hợp đồng với ông. Jansons di chuyển theo tốc độ của riêng mình”. Tại Pittsburgh, ông đã được ghi nhận là đã biến đổi âm thanh và nâng tầm dàn nhạc một cách đáng kể. Thay vì sự lạnh lùng của Maazel, Jansons rất chịu khó trong việc trao đổi với nhạc công và khiến họ suy nghĩ sâu sắc hơn về thứ âm nhạc mà họ đang chơi. Trong khi Maazel rất chính xác về từng chi tiết, Jansons nói nhiều hơn về tâm trạng của tác phẩm mà ông muốn tạo ra mà không đưa ra những hướng dẫn cụ thể. Một phong cách có lẽ ông học được từ Karajan. Ngay cả khi đang trong một buổi hoà nhạc, ông sẽ ngừng chỉ huy hoàn toàn, buộc các nhạc công phải lắng nghe lẫn nhau. Jansons cũng nổi tiếng với việc đối với cùng một đoạn nhạc, khi ông yêu cầu chơi rất to, khi lại chơi nhỏ hơn, mang lại sự ngạc nhiên và hứng thú đối với khán giả. Tuy nhiên, việc đảm nhiệm cương vị tại cả 2 dàn nhạc ở Oslo và Pittsburgh, đồng nghĩa với việc phải di chuyển qua lại Đại Tây Dương, đó là chưa kể đến mối quan hệ bền chặt của ông với Saint Petersburg Philharmonic (Leningrad Philharmonic sau khi đã đổi tên) khiến thể trạng của ông bị bào mòn. Bản thân sức khoẻ của ông cũng có rất nhiều vấn đề. Tháng 4/1996, khi đang chỉ huy những trang cuối trong vở opera La Bohème (Giacomo Puccini) tại Oslo, ông bị một cơn đau tim nghiêm trọng. Mặc dù trước đó đã cảm thấy đau dữ dội ở cánh tay và ngực nhưng Jansons vẫn cố gắng chỉ huy tiếp. Chỉ sau khoảng 3, 4 phút, ông đã gục xuống, ngất xỉu nhưng cánh tay phải vẫn giơ cao đũa chỉ huy. Jansons được tiến hành phẫu thuật tại Pittsburgh, các bác sĩ đeo cho ông một cái máy khử rung nhịp tim. Cha của ông, cũng qua đời vì đau tim khi đang chỉ huy Hallé Orchestra tại Manchester vào ngày 21/11/1984.

Năm 2000, ông từ chức tại Oslo sau khi mâu thuẫn với chính quyền thành phố về việc xây một phòng hoà nhạc mới cho dàn nhạc. Năm 2002, ông tuyên bố sẽ rời khỏi vị trí tại Pittsburgh vào năm 2004. Thay vào đó, ông sẽ đảm nhiệm cương vị nhạc trưởng chính thức của Royal Concertgebouw Orchestra cũng như tại Bavarian Radio Symphony Orchestra, hai trong số những dàn nhạc nổi tiếng nhất thế giới. Jan Raes, giám đốc điều hành Royal Concertgebouw Orchestra đã nhận xét: “Ông ấy luôn chuẩn bị chu đáo. Ông ấy sử dụng hiệu quả từng giây phút trong các buổi tập, không dài dòng. Jansons cho nhạc công tất cả những gì mình có. Ông ấy buộc các nhạc công phải chịu áp lực cao nhất khi bắt họ phải làm việc chăm chỉ nhưng luôn tỏ ra tôn trọng họ”. Người phát ngôn của Bavarian Radio Symphony Orchestra, Peter Meisel cũng đồng ý với điều này: “Jansons luôn cứng rắn một cách tàn nhẫn và không khoan nhượng đối với bản thân. Sau mỗi buổi hoà nhạc, ông ấy sẽ nhận được bản thu âm (được dùng riêng cho dàn nhạc) và nghe luôn trong đêm đó để xem cái gì hay, cái gì dở. Nếu có lỗi, ông sẽ tự trách mình”. Jansons nói về công việc chỉ huy cùng lúc hai dàn nhạc của mình: “Nhiệm vụ của tôi là sửa chữa. Bạn phải tự trách mình nếu như có chuyện gì xảy ra. Không phải ai cũng có thể cầm đũa chỉ huy. Tất nhiên nhạc trưởng không tạo ra âm thanh. Vì vậy, bạn phải nghiên cứu thật sâu và thể hiện mong muốn của mình. Các nốt nhạc chỉ là dấu hiệu. Bạn phải đi sau chúng và xem trí tưởng tượng của bạn nói gì. Nhưng làm thế nào để bạn chuyển điều đó thành âm nhạc. Hãy nghĩ về khía cạnh kỹ thuật của việc từ tầng trệt xây lên 20 tầng, có lẽ bạn bắt đầu có được thứ âm thanh mà bạn muốn”. Việc cùng chỉ huy hai dàn nhạc không đồng nghĩa với việc tạo ra âm thanh giống nhau: “Không, chúng hoàn toàn khác. Mỗi dàn nhạc tuyệt vời đều có âm thanh riêng của mình, tạ ơn Chúa! Bavarian Radio Symphony Orchestra, theo đúng chất Đức, âm thanh lớn và sự bùng nổ khủng khiếp. Rất dễ để chơi nhẹ nhàng, nhưng vô cùng khó để tạo ra âm thanh sôi động và biểu cảm cùng lúc. Dàn nhạc này làm được như vậy. Còn Royal Concertgebouw Orchestra: trong suốt, tinh tế tuyệt vời, trau chuốt và không bao giờ bị gượng ép”. Những di sản đáng kể của Jansons trong thời gian này là những bản giao hưởng của Mahler cũng như giao hưởng thơ của Richard Strauss. Bản giao hưởng số 6 của Mahler, cùng với Royal Concertgebouw Orchestra, ông để thể hiện được sự dằn vặt đến tột cùng, tâm trạng đầy gào thét, nhấn sâu vào những nốt appoggiatura, đúng với tinh thần “Bi kịch” của tác phẩm. Với Strauss, dàn dây luôn tạo ra ánh sáng lấp lánh như thuỷ tinh và niềm đam mê mãnh liệt. Kèn gỗ uể oải và gợi cảm, kèn đồng hào hứng và mạnh mẽ. Jansons cũng không hề bỏ quên những tác giả quen thuộc mà ông từng gắn bó suốt một thời trai trẻ như Peter Ilyich Tchaikovsky, Sergei Rachmaninov hay Dmi tri Shostakovich. Bên cạnh đó, ông cũng tìm đến với những nhà soạn nhạc hiện đại. Bản thu âm năm 1999 của ông với Berlin Philharmonic trong các tác phẩm của Kurt Weill được đánh giá rất cao. Năm 2008, tạp chí Gramophone tổ chức cuộc bình chọn 20 dàn nhạc xuất sắc nhất thế giới, Royal Concertgebouw Orchestra xếp thứ nhất và Bavarian Radio Symphony Orchestra xếp thứ 6. Cả 2 dàn nhạc thời điểm này đều nằm dưới sự dẫn dắt của Jansons! Những nhạc công trong tất cả các dàn nhạc mà Jansons từng chỉ huy gặp khó khăn trong việc phù hợp với mức năng lượng của ông, nhưng Jansons đã thúc đẩy bản thân với niềm tin rằng mình vẫn chưa đạt đến đỉnh cao nhất, rằng vẫn còn nhiều điều để học hỏi. Có lẽ chính sự cam kết không thoả hiệp đó, đã khiến ông trở thành một nhạc trưởng xuất sắc.

Jansons được mời chỉ huy trong buổi hoà nhạc đón năm mới thường niên của Vienna Philharmonic vào năm 2006. Sau này, ông còn hai lần đảm nhiệm trọng trách này trong những năm 2012 và 2016. Năm 2015, Jansons bất ngờ tuyên bố từ giã cương vị của mình tại Royal Concertgebouw Orchestra. Dàn nhạc đã ghi nhận những cống hiến của ông: “Tất cả chúng tôi sẽ nhớ đến ông vì sự chi tiết, niềm đam mê, kiến thức và nhạc cảm mãnh liệt. Không có điều gì trong tổng phổ ông thực hiện mà chưa từng đọc, nghiên cứu, thảo luận, suy nghĩ và lo lắng”. Nhiều người suy đoán ông sẽ thay thế Rattle tại Berlin Philharmonic. Tuy nhiên, Jansons cho biết sẽ tập trung vào Bavarian Radio Symphony Orchestra. Thời điểm đó, ông đang thuyết phục giới chức địa phương xây dựng một phòng hoà nhạc mới thay thế cho khán phòng cũ có chất lượng không tương xứng. Việc từ bỏ dàn nhạc khi công việc đấu tranh còn dang dở “sẽ giống như phản bội họ”, ông lý giải. Ban đầu, chính quyền thành phố Munich và bang Bavaria cho biết sẽ không thay thế mà chỉ cải tạo lại phòng Gasteig (được Bavarian Radio Symphony Orchestra và Munich Philharmonic sử dụng chung). Tuy nhiên, kế hoạch cuối cùng là một phòng hoà nhạc mới sẽ được xây dựng ở phía đông thành phố và mở cửa vào năm 2024. Jansons đã ký hợp đồng với dàn nhạc tới thời điểm này. Tuy nhiên, ông đã qua đời vào ngày 1/12/2019 ở tuổi 76 tại nhà riêng ở Ngôi nhà Tolstoy, Saint Petersburg. Nguyên nhân cái chết đến từ căn bệnh tim lâu năm của ông. Ông mất trong vòng tay của người vợ thứ hai Irina và cô con gái duy nhất Ilona (từ cuộc hôn nhân đầu tiên), người đang là nghệ sĩ piano tại nhà hát Mariinsky. Buổi hoà nhạc cuối cùng của ông chỉ mới diễn ra vài tuần trước đó, vào ngày 8/11/2019 tại Carnegie Hall với Bavarian Radio Symphony Orchestra.

Ông có 2 quốc tịch: Latvia và Nga. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã giành được rất nhiều giải thưởng và danh hiệu danh giá từ nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới. Jansons còn là một trong những nhạc trưởng hiếm hoi là thành viên danh dự của cả Berlin Philharmonic và Vienna Philharmonic.

Ngọc Tú tổng hợp

Nguồn:
npr.org
nytimes.com
theguardian.com