Tác giả: Sergei Prokofiev
Tác phẩm: Giao hưởng số 7 giọng Đô thăng thứ, Op. 131
Thời gian sáng tác: Trong giai đoạn 1951-1952.
Công diễn lần đầu: Ngày 11/10/1952 tại Trade Union Hall of Columns, Moscow với nhạc trưởng Samuil Samosud và All-Union Radio Orchestra.
Độ dài: Khoảng 35 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Moderato
Chương II – Allegretto
Chương III – Andante espressivo
Chương IV – Vivace
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 2 flute, 2 oboe, English horn, 2 clarinet, bass clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, triangle, bass drum, snare drum, cymbals tambourine, triangle, wood block, xylophone, glockenspiel, piano, harp và dàn dây.

Sergei Prokofiev đã soạn bản giao hưởng số 7 và cũng là cuối cùng của mình trong khoảng thời gian 1951-1952. Đây cũng là những năm tháng khó khăn của nhà soạn nhạc. Ông bị ngã dẫn đến một cơn chấn động não và không bao giờ khôi phục lại như bình thường được nữa. Và khi đã 60 tuổi, Prokofiev yếu đến mức chỉ có thể làm việc một tiếng một ngày. Hơn nữa, điều kiện làm việc của ông cũng rất hà khắc. Ba năm trước, Andrei Zhdanov, một trong những lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, phụ trách về văn hoá và là cánh tay phải của Stalin, đã có một cuộc thanh trừng trong giới văn nghệ sĩ nhằm loại bỏ chủ nghĩa hình thức. Prokofiev nằm trong số người bị đả phá mạnh mẽ vì đã “biến âm nhạc thành một thứ tập trung quá nhiều vào những khía cạnh đen tối và đáng sợ của thực tế”.
Trong bối cảnh đó, bản giao hưởng số 7 bị giới phê bình âm nhạc phương Tây nghi ngờ, họ coi đây là sản phẩm của một Prokofiev “mệt mỏi”, một dấu hiệu cho thấy ông đã “đầu hàng” trước những yêu cầu của chính quyền Xô viết về việc sáng tác âm nhạc cho đại chúng. Đúng là sau bản giao hưởng số 5 hào hùng và bản số 6 đau khổ, bản số 7 này nhẹ nhàng và dè dặt hơn hẳn. Tác phẩm được sáng tác sau đề nghị của Ban Thiếu nhi của Đài phát thanh Xô viết (vì vậy bản giao hưởng này cũng còn được gọi là giao hưởng Thiếu nhi) và chính Prokofiev đã miêu tả nó là “một bản giao hưởng đơn giản, dành cho những thính giả trẻ tuổi”. Tuy nhiên, sau buổi tập đầu tiên, đã có người lên án “Âm nhạc phải chăng quá đơn giản?” Vấn đề ở chỗ đây là một bản giao hưởng, một thuật ngữ dường như ngụ ý ám chỉ đến một tác phẩm âm nhạc chứa đựng nhiều giá trị và kịch tính. Có lẽ nếu gọi là một tổ khúc giao hưởng sẽ ít bị chỉ trích hơn. Bà Lina, vợ của Prokofiev đã giải thich về từ “đơn giản”: “Prokofiev có một khao khát mạnh mẽ về một ngôn ngữ âm nhạc trong sáng, đơn giản. Khi ông ấy nói về trong sáng, đơn giản ở đây không phải vấn đề về “sự đơn giản xưa cũ” bao gồm việc lặp lại những gì đã nói mà là một sự đơn giản mới gắn với hướng cuộc sống mới mà chúng ta đang đi”. Sự “đơn giản mới” này áp dụng cho các sáng tác cuối đời của Prokofiev và chắn chắn bao gồm cả bản giao hưởng số 7 này. Bản thân Prokofiev cũng đã đáp trả lại những lời phê bình: “Nghệ thuật sáng tác và hoà trộn những nốt nhạc tạo ra một tác phẩm liền mạch vượt quá tài năng của tôi. Tuy nhiên, tôi không nghĩ tôi sẽ gọi một bản giao hưởng là đơn giản”.
Là một trong số những tác phẩm cuối cùng của Prokofiev, mặc dù được viết theo đơn đặt hàng của Ban Thiếu nhi của Đài phát thanh Xô viết, sự đơn giản trong cách tiếp cận của nhà soạn nhạc ẩn chứa những tư tưởng biểu cảm sâu sắc hơn. Mặc dù bản giao hưởng tuân thủ truyền thống 4 chương: chương mở đầu ở dạng sonata – Scherzo – chương chậm – chương kết, nó không phải là một tác phẩm đơn giản về mặt hoà thanh với giọng Đô thăng thứ chủ đạo.

Chương I mở ra với chủ đề chính dàn dây đầy cảm xúc, nghe bâng khuâng và mang đậm tính hoài cổ hơn bất cứ thứ gì khác. Tâm trạng này chi phối phần lớn chương nhạc. Chủ đề một dần dần bay bổng mang đến một không gian khoáng đạt, bao la dẫn đến chủ chủ đề hai với một giai điệu rộng rãi trên bè dây và bộ hơi. Đoạn cuối của phần trình bày là một giai điệu vui nhộn với tiếng oboe rồi flute độc tấu trên bè đệm của glockenspiel và harp. Giai điệu này sẽ có sức nặng hơn khi Prokofiev cho xuất hiện lại vào chương cuối. Chỉ dẫn của Prokofiev về tốc độ của chương nhạc này là Moderato thay vì Allegro thường gặp hơn cho thấy gợi ý của nhà soạn nhạc về một tâm trạng thư thái và âm nhạc kết thúc với những hồi tưởng tĩnh lặng về chủ đề ban đầu.

Chương II là một điệu waltz và là một trong những giai điệu tuyệt đẹp của Prokofiev nhưng không hoàn toàn lắng đọng trong nhịp điệu mà chúng ta mong đợi. Ông ghi chú phần bắt đầu là Allegretto nhưng nhanh chóng tăng tốc vào Allegro, gợi nhớ lại âm nhạc trong Cindarella. Hiệu ứng nhạc cụ trong chương nhạc khơi gợi trí tưởng tượng của người nghe: tiếng oboe uể oải, trumpet và bassoon hài hước, bè dây dồn dập… Hoà vào nhau, chương nhạc mang đến một tổng thể dịu dàng và duyên dáng.

Chương III Andante espressivo tiếp theo có giai điệu ấm áp và tính đồng quê rất rõ ràng. Giai điệu này đã từng được Prokofiev sử dụng trong tác phẩm Eugene Onegin, Op 71 được ông sáng tác trước đó năm 1936. Là một bữa tiệc của kèn gỗ. Những giai điệu thơ mộng, điền viên liên tục được oboe, English horn, flute, bassoon, clarinet thực hiện. Phần cuối chương cello thực hiện các nốt nhạc ostinato (thực hiện đi thực hiện lại một giai điệu) gợi nhớ lại tâm trạng của phần Moderato mở đầu. Prokofiev đang hồi tưởng lại những kỷ niệm của mình.

Chương IV đầy năng lượng, mang đến cảm giác đúng là được viết cho trẻ em. Xuyên suốt, chương nhạc gợi nhớ cho chúng ta đến những lễ hội thiếu nhi, hoặc là một rạp xiếc, hoặc là một chiếc xe trượt tuyết – những dịp liên hoan vui vẻ, tràn đầy cảm xúc hạnh phúc. Prokofiev say sưa trong việc kết hợp các nhạc cụ tạo nên những giai điệu đầy mê hoặc. Trong phần coda, Prokofiev gợi nhớ lại phần “thiếu nhi” nhất trong chương I với tiếng flute và glockenspiel. Âm nhạc chậm lại và kết thúc trong trầm lắng đúng với ghi chú của tác giả: pensieroso.

Trên thực tế, khi sáng tác bản giao hưởng số 7 này, Prokofiev rất muốn giành giải thưởng Stalin với số tiền 100.000 rúp. Một số tiền khá lớn đủ để giải quyết các khó khăn về tài chính mà ông đang gặp phải. Sau khi nghiên cứu tác phẩm với cái kết trầm lắng, nhạc trưởng Samosud, người sẽ lần đầu trình diễn bản giao hưởng này đã khuyên Prokofiev viết một cái kết lạc quan hơn thì sẽ có nhiều cơ hội giành giải nhất. Prokofiev đã thêm vào 26 ô nhịp, chủ yếu lấy từ các chất liệu của chương đầu. Việc làm này trên thực tế chỉ mang ý nghĩa về mặt tài chính, nói với Mstislav Rostropovich, Prokofiev cho rằng mình rất yêu thích cái kết ban đầu và: “”Slava, cậu sẽ sống lâu hơn tôi nhiều và cậu phải chắc chắn rằng cái kết mới này sẽ không bao giờ được tồn tại sau tôi”. Trên thực tế, mọi việc Prokofiev mong muốn đều không trở thành sự thực. Ông không giành được giải thưởng Stalin với bản giao hưởng này (dù rằng năm 1957 sau khi ông mất, tác phẩm đã được trao giải thưởng Lenin) và phần kết tươi sáng hơn lại được hoan nghênh. Ngay trong buổi diễn ra mắt, khán giả đã yêu cầu chơi lại đoạn nhạc này và cả trong nhiều buổi biểu diễn sau đó. Sức khoẻ của Prokofiev ngày một yếu đi, buổi xuất hiện trong lần ra mắt tác phẩm này cũng là lần cuối cùng của ông trước công chúng. Có người nhận xét, bản giao hưởng số 7 là tác phẩm nhìn lại cuộc đời và tuổi thơ của Prokofiev – giấc mơ thời thơ ấu của một ông già. Chương kết như nhịp tim đập chậm và rồi dừng lại. Nghe xong bản giao hưởng này, Shostakovich đã viết cho Prokofiev: “Tôi ước anh sẽ sống thêm một trăm năm nữa để sáng tạo. Lắng nghe bản giao hưởng số 7 của anh làm cho cuộc sống dễ chịu và vui vẻ hơn nhiều”.

Mặc dù Prokofiev từng hy vọng 26 ô nhịp ông thêm vào sẽ vĩnh viễn biến mất sau khi ông qua đời nhưng trên thực tế, cả 2 phiên bản vẫn luôn được biểu diễn. Chúng ta có thể thưởng thức phiên bản mà Prokofiev yêu mến hoặc phiên bản 100.000 rúp.

Cobeo