Thông tin chung

Opera: Le nozze di Figaro, K. 492 (Đám cưới Figaro)
Âm nhạc: Wolfgang Amadeus Mozart.
Libretto: Lorenzo da Ponte dựa theo vở kịch Ngày điên rồ hay đám cưới Figaro của Pierre Beaumarchais.
Thời gian sáng tác: Năm 1786.
Công diễn lần đầu: vào ngày 1/5/1786 tại Burgtheater, Vienna dưới sự chỉ huy của nhà soạn nhạc.
Độ dài: Khoảng 3h.
Nhân vật/Loại giọng:
Figaro (Người hầu của Almaviva): Baritone
Susanna (Người hầu của Rosina, chuẩn bị kết hôn với Figaro): Soprano
Almaviva (Bá tước, ông chủ của Figaro): Baritone
Rosina (Bá tước phu nhân, vợ của Almaviva): Soprano
Cherubino (Người hầu của Almaviva): Mezzo-soprano
Bartolo (Bác sĩ, người đỡ đầu của Rosina): Bass
Marcellina (Quản gia của Bartolo): Soprano
Basilio (Thầy dạy nhạc): Tenor
Don Curzio (Thẩm phán): Tenor
Antonio (Người làm vườn, chú của Susanna): Bass
Barbarina (Con gái của Antonio): Soprano
Thành phần dàn nhạc: 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 2 horn, 2 trumpet, timpani, harpsichord và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Mozart hiểu rằng thành công tại Nhà hát Opera Hoàng gia ở Vienna có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp và cuộc sống của ông. Vào thời điểm đó, các vở diễn tại đây đã quay trở lại với ngôn ngữ Ý, và kể từ sau khi sáng tác vở opera Die Entführung aus dem Serail (Vụ trốn thoát khỏi hậu cung) bằng tiếng Đức vào năm 1782, Mozart đã luôn tìm kiếm một kịch bản bằng tiếng Ý phù hợp. Ông bắt đầu phổ nhạc cho hai vở L’oca del Cairo (Con ngỗng thành Cairo) và Lo sposo deluso (Chú rể bị chơi xỏ), nhưng đã từ bỏ tất cả sau khi nhận ra cốt truyện của chúng quá nhẹ nhàng và thiếu chiều sâu. Mozart sau đó làm quen với Lorenzo Da Ponte, một người Ý phiêu bạt gốc Do Thái, và đã đề nghị Da Ponte viết một kịch bản dựa trên vở kịch La Folle journée, ou Le Mariage de Figaro của Pierre Beaumarchais, phần tiếp theo của Le Barbier de Séville (Thợ cạo thành Seville). Vở kịch mà trước đó đã từng được nhiều nhà soạn nhạc chuyển thể thành opera như Friedrich Benda (năm 1776) và Giovanni Paisiello (năm 1782). Sau này nó sẽ đạt đến đỉnh cao bất tử trong phiên bản của Gioachino Rossini (năm 1816).

La Folle journée, or Le Mariage de Figaro khi ra đời đã gây chấn động khắp châu Âu. Năm 1782, Beaumarchais trình bản thảo vở kịch (vốn được hoàn thành từ năm 1778) cho vua Louis XVI, nhưng nhà vua đã từ chối cho phép công diễn công khai. Không nản lòng, nhà viết kịch táo bạo này đã tổ chức một loạt buổi đọc kịch riêng tư khắp Paris. Trước sự hưởng ứng nồng nhiệt của công chúng, vua Louis XVI buộc phải nhượng bộ và đồng ý cho trình diễn vở kịch tại cung điện Versailles vào mùa hè năm 1783. Tuy nhiên, ba tiếng trước giờ diễn, buổi biểu diễn bị hủy bỏ. Vài tháng sau, nhà vua cuối cùng cũng cho phép một buổi diễn riêng tư nữa, lần này tại biệt thự của bá tước de Vaudreuil. Không hài lòng với kết quả này, Beaumarchais, với bản tính tháo vát của mình, đã tổ chức nhiều buổi làm việc bán công khai với các viên chức kiểm duyệt. Ông vừa bảo vệ vở kịch, vừa tiếp thu ý kiến của họ để sửa đổi tác phẩm. Cuối cùng, tác phẩm được công diễn lần đầu tiên tại nhà hát Comédie-Française ở Paris vào ngày 27/4/1784. Tác phẩm gây ra một cơn sốt đến mức ba khán giả bị đè chết trong một đám đông 5.000 người chen lấn. Đại đa số đã đến từ 8 giờ sáng và chỉ được vào khán phòng vào buổi trưa để xem suất diễn buổi tối. Sau đó, việc trình diễn công khai vở kịch bị cấm ở Vienna, nơi mà vở opera của Mozart sau này ra mắt, theo chỉ thị của Hoàng đế Joseph II. Nhà vua tuyên bố: “Vì vở kịch này chứa đựng nhiều điều đáng chê trách, nên ta kỳ vọng rằng cơ quan kiểm duyệt sẽ hoặc là bác bỏ hoàn toàn, hoặc ít nhất cũng phải chỉnh sửa sao cho họ có thể chịu trách nhiệm về việc cho phép trình diễn vở này cũng như về ấn tượng mà nó có thể gây ra”. Sau đó, cơ quan kiểm duyệt Áo đã chính thức cấm biểu diễn phiên bản tiếng Đức của vở kịch. Tuy nhiên, Da Ponte, với kịch bản của mình đã thuyết phục được Joseph II chấp thuận cho phép thực hiện một vở opera, trước khi Mozart viết bất kỳ nốt nhạc nào.

Da Ponte đã rút gọn đáng kể vở hài kịch năm màn của Beaumarchais để tạo nên phần lời cho Le nozze di Figaro, đến mức ông gọi tác phẩm của mình là một “bản trích yếu”. Ông cắt giảm số nhân vật từ 16 xuống còn 11, trong đó có hai vai được kiêm nhiệm trong buổi công diễn đầu tiên (tương ứng với bốn nhân vật). Do những tranh cãi xoay quanh vở kịch gốc, Da Ponte đã lược bỏ phần lớn các nội dung chính trị quá rõ rệt, bao gồm một số bài diễn thuyết triết lý sắc bén của Figaro và một cuộc tranh luận nảy lửa giữa anh và Bá tước trong màn III. Ở những chỗ khác, ông còn loại bỏ cả cảnh xét xử, trong đó hợp đồng của Marcellina yêu cầu Figaro phải cưới bà ta (phán quyết có lợi cho Marcellina trong phiên bản gốc). Da Ponte cho biết ông đã: “… lược bỏ hoàn toàn một màn kịch, nhiều cảnh rất hiệu quả và nhiều câu thoại dí dỏm… Thay cho chúng, tôi đã phải đưa vào những canzonette (bài hát ngắn), một số đoạn aria, hợp xướng và các ý tưởng cũng như lời văn khác có thể phổ nhạc, những thứ chỉ có thể được thể hiện bằng thơ ca, chứ không phải bằng văn xuôi”. Tất cả được Da Ponte thực hiện trong sáu tuần lễ.

Da Ponte mạnh dạn khẳng định rằng ông và Mozart đã tạo nên một hình thức opera hoàn toàn mới: ““Bất chấp… mọi nỗ lực… nhằm rút ngắn, vở opera này sẽ không phải là một trong những tác phẩm ngắn nhất từng được trình diễn trên sân khấu của chúng ta; và chúng tôi hy vọng rằng điều này có thể được biện minh vì sự đa dạng của những mạch truyện mà hành động của vở kịch này được dệt nên, vì quy mô rộng lớn và sự trang trọng của nó, vì số lượng lớn các tiết mục âm nhạc phải được sáng tác để tránh cho các diễn viên bị bỏ trống quá lâu, để giảm bớt sự nhàm chán và phiền toái của các đoạn recitative kéo dài, cũng như để diễn đạt bằng những sắc thái đa dạng các cung bậc cảm xúc khác nhau xuất hiện xuyên suốt vở diễn, nhưng trên hết, là vì khát vọng của chúng tôi muốn mang đến cho một công chúng có gu thẩm mỹ và sự tinh tế cao một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ”.

Mozart không sáng tác vở opera này theo trình tự thông thường. Ông bắt đầu với các phân đoạn hài hước và chỉ viết các aria trữ tình sau cùng. Theo Từ điển Âm nhạc New Grove: “Le nozze di Figaro có thể trông giống như những vở opera buffa kiểu Ý điển hình cùng thời, nhưng sức mạnh giao hưởng trong âm nhạc và mức độ phát triển tinh vi về phối khí khiến nó trở nên khác biệt. Các phần kết của màn II và màn IV (mỗi phần đều bắt đầu và kết thúc ở một giọng riêng biệt) là những hợp xướng dài nhiều đoạn, với sự thay đổi liên tục về nhịp điệu, giọng và cách phối khí, vừa giải tỏa những căng thẳng đang tồn tại, vừa tạo ra những xung đột mới, tất cả đều gắn bó chặt chẽ với diễn tiến hành động trên sân khấu.

Le nozze di Figaro mang đến vô số những bản nhạc tuyệt vời nối tiếp nhau. Hiếm có một tác phẩm nào mà kể cả các nhân vật phụ đều được tác giả chăm chút đến như vậy. Bartolo, Marcellina hay Basilio đều có những aria tuyệt vời cho riêng mình. Napoleon, khi đang sống lưu vong, đã gọi vở kịch của Beaumarchais là “cuộc Cách mạng đã được đưa lên sân khấu kịch nói”. Mozart còn đi xa hơn thế. Nghệ sĩ piano, nhà nghiên cứu âm nhạc Charles Rosen, trong cuốn The Classical Style (Phong cách Cổ điển), cho rằng cần phải xem trọng lời tuyên bố của Da Ponte, đồng thời ghi nhận sự phong phú trong cách viết hợp xướng của Mozart, điều mà theo ông đã thúc đẩy hành động kịch tính tiến triển một cách mạnh mẽ hơn nhiều so với các đoạn recitative. Rosen cũng nhận xét rằng ngôn ngữ âm nhạc của phong cách cổ điển đã được Mozart thích nghi để truyền tải yếu tố kịch, khi nhiều phân đoạn trong vở opera mang cấu trúc giống với sonata. Rosen nhận xét: “Sự tổng hoà giữa tính phức tạp ngày càng tăng và sự giải quyết mang tính đối xứng, vốn là cốt lõi trong phong cách của Mozart, đã cho phép ông tìm ra một hình thức âm nhạc tương đương với những kiệt tác sân khấu mà ông lấy làm hình mẫu kịch. Le nozze di Figaro dưới bàn tay của Mozart không những sánh ngang về mặt kịch tính với nguyên tác của Beaumarchais, mà ở nhiều khía cạnh, còn vượt trội hơn”.

Điều này được thể hiện rõ trong các tiết mục kết thúc của cả bốn màn: khi kịch tính được đẩy lên cao trào, Mozart hoàn toàn loại bỏ các đoạn recitative và thay vào đó là phần viết nhạc ngày càng tinh vi. Ông đưa các nhân vật lên sân khấu, hoà quyện họ trong một mạng lưới phức tạp giữa các aria, duet và nhiều hơn nữa, với nhiều tổ hợp biến hóa và cao trào là những cảnh hợp ca lên đến bảy hoặc tám giọng trong phần kết của màn II và IV. Phần kết của màn II, kéo dài đến 20 phút, là một trong những đoạn nhạc liên tục và không bị ngắt quãng dài nhất mà Mozart từng sáng tác. Trong hơn 900 ô nhịp không nghỉ này, có tám trong số mười một nhân vật của vở opera cùng xuất hiện trên sân khấu. Johannes Brahms, người vô cùng ngưỡng mộ Beethoven đã phải thốt lên rằng: “Theo tôi, mỗi tiết mục trong Figaro là một phép màu; tôi hoàn toàn không thể hiểu làm sao một ai đó có thể sáng tạo nên điều gì hoàn hảo đến thế; chưa từng có điều gì giống như vậy được tạo ra lần nữa, ngay cả Beethoven cũng không”.

Tóm tắt nội dung

Thời gian: Thế kỷ 18, khoảng ba năm sau khi Figaro giúp Almaviva cưới được Rosina.
Địa điểm: Điền trang của Bá tước Almaviva, Aguas-Frescas, cách Seville ba dặm.

Vở opera mở đầu bằng một overture ở giọng Rê trưởng. Trích đoạn này rất nổi tiếng và thường xuyên được biểu diễn như là một tác phẩm độc lập.

Màn I

Một căn phòng được bài trí sơ sài, với một chiếc ghế đặt ở giữa.

Figaro cùng người vợ sắp cưới là cô hầu gái Susanna đang trang trí phòng cưới (“Cinque… dieci… venti”). Căn phòng này nằm ở vị trí rất thuận lợi để hai người chủ của họ: bá tước Almaviva và bá tước phu nhân Rosina chỉ cần rung chuông là họ sẽ có mặt ngay tức khắc (“Se a caso madama”). Trong khi đang dọn dẹp, Figaro nghe tin từ Susanna rằng bá tước Almaviva đang có mưu đồ tán tỉnh cô (“Or bene; alcosta e taci”). Sau khi nghe xong, Figaro thề rằng sẽ dạy ông chủ mình một bài học (“Se vuol ballare”) và rời đi.

Bartolo đến, cùng với bà quản gia Marcellina. Trước đó, Figaro đã vay bà một khoản tiền lớn, và thay vì thế chấp, anh đã hứa sẽ cưới bà nếu không trả được đúng hạn; giờ bà định thực hiện lời hứa đó bằng cách kiện Figaro. Bartolo, tìm cách trả thù Figaro vì đã tạo điều kiện cho bá tước và Rosina kết hôn, đồng ý làm luật sư miễn phí cho Marcellina và cam đoan với bà, rằng ông có thể thắng kiện (“La vendetta, oh la vendetta”). Bartolo rời đi, Susanna quay trở lại và Marcellina cùng Susanna trao đổi với nhau những lời mỉa mai đầy châm biếm nhưng được ngụy trang bằng sự lịch thiệp (“Via resti servita, madama brillante”. Trong màn đối đáp này, Susanna giành phần thắng khi chúc mừng đối thủ của mình vì số tuổi đáng nể của bà. Người phụ nữ lớn tuổi rời đi trong cơn giận dữ.

Chàng đầy tớ trẻ tuổi đa tình Cherubino tới ngay sau cuộc cãi vã giữa Marcellina và Susana (“Via resti servita, madama brillante”), cậu ta say sưa mê mẩn mọi phụ nữ, đặc biệt là với “mẹ đỡ đầu xinh đẹp” của mình: bá tước phu nhân (“Non so più cosa son, cosa faccio”). Thế rồi ngài bá tước xuất hiện, ông ta đã rất giận dữ khi bắt gặp Cherubino đang trêu ghẹo Barbarina, ngay lập tức Cherubino trốn sau một cái ghế. Rồi ngài bá tước bỗng nhìn thấy Susanna, ông cố gắng tán tỉnh cô. Khi Basilio đang tiến tới, ông không muốn người khác thấy mình ở cùng Susanna nên đã nấp đi. Tuy nhiên, khi nghe Basilio nói rằng Cherubino đang phải lòng bá tước phu nhân, Almaviva giận dữ chạy ra khỏi chỗ nấp (“Cosa sento!”). Phát hiện ra Cherubino đang được Susanna cố gắng che giấu, Almaviva càng phẫn nộ hơn khi nhận ra rằng Cherubino đã chứng kiến cảnh mình tán tỉnh Susanna. Khi ông đuổi theo Cherubino vào đại sảnh thì bắt gặp Figaro trở lại đi cùng nhiều gia nhân khác, mọi người hết lời khen ngợi sự cải cách của ngài bá tước khi ông bãi bỏ droit du seigneur (quyền được lên giường với người hầu gái vào đêm tân hôn của cô). Almaviva tuyên bố tha thứ cho Cherubino, nhưng trả thù bằng cách điều cậu ta đến trung đoàn của mình ở Seville để thực hiện nghĩa vụ quân sự. Figaro trêu chọc Cherubino bất hạnh rằng cuộc sống quân ngũ rất khắc nghiệt và mọi thứ xa hoa, đặc biệt là phụ nữ sẽ bị cấm đoán hoàn toàn (“Non più andrai farfallone amoroso”).

Màn II

Căn phòng của hai vợ chồng bá tước, có một cửa nhỏ thông sang phòng người hầu.

Bá tước phu nhân than vãn về tình cảm ngày càng lạnh nhạt của chồng (“Porgi, amor qualche ristoro”). Được sự khuyến khích của Figaro và Susanna, bà lên kế hoạch sẽ dạy dỗ chồng mình (“Vieni, cara Susanna”). Figaro, thông qua Basilio, đã gửi cho Almaviva một bức thư, thông báo rằng Rosina sẽ có một cuộc hẹn bí mật vào tối hôm đó. Figaro hi vọng việc bá tước bận rộn tìm kiếm những kẻ ngoại tình không có thật sẽ không can thiệp vào cuộc hôn nhân của anh. Họ sẽ cải trang Cherubino thành Susanna và gửi anh ta tới chỗ ngài bá tước.

Khi Cherubino xuất hiện, bị tác động mạnh vì bá tước phu nhân (“Voi, che sapete che cosa è amor”), Rosina và Susanna bắt tay vào cải trang cho cậu ta để chuẩn bị cho một cuộc hẹn hò đáng chờ đợi. Vừa trang điểm Susanna vừa ca ngợi vẻ đẹp trai của Cherubino và dạy cậu cư xử như một người phụ nữ (“Venite, inginocchiatevi”).

Khi Susanna ra ngoài để tìm một dải ruy băng cũng là lúc ngài bá tước tới, ông gõ cửa và rất bực tức khi thấy cửa đã bị khoá. Cherubino nhanh chóng trốn vào trong chiếc tủ quần áo. Khi ngài bá tước nghe thấy một tiếng động, Rosina đã thú nhận với ông Susanna ở trong chiếc tủ quần áo đó và không thể ra ngoài vì đang thử váy cưới. Nhưng ngài bá tước có vẻ nghi ngờ. Vào lúc này, Susanna từ phòng của mình chuẩn bị bước vào, nhận ra tình hình nên đã trốn đi trước khi mọi người nhìn thấy cô. Almaviva yêu cầu người trong tủ nói để ông có thể nhận dạng qua giọng nói nhưng Rosina lại yêu cầu im lặng (“Susanna, or via, sortite”). Giận dữ, Almaviva rời đi cùng Rosina để tìm chìa khoá tủ và khoá cửa phòng lại. Susanna vào từ phòng mình, nhanh chóng giúp Cherubino trốn thoát bằng cách leo qua cửa sổ và thế chỗ, vui vẻ vì sẽ khiến bá tước trông thật ngớ ngẩn (“Aprite, presto, aprite”).

Ông bà bá tước trở về, Rosina lo sợ còn Almaviva thì giận dữ vì nghĩ mình bị phản bội (“Esci ormai, garzon malnato”). Khi mở được cánh cửa tủ, cả hai ông bà bá tước đều rất ngạc nhiên khi thấy Susanna trong đó. Xấu hổ vì sự ghen tuông của mình, bá tước cầu xin sự tha thứ. Almaviva quay sang truy hỏi về bức thư, Rosina và Susanna cho biết rằng tác giả của nó là Figaro. Đúng lúc này, anh bước vào và liên tục bị Almaviva truy hỏi vì bức thư này. Khi mọi việc dần lắng xuống thì Antonio xộc vào phòng với chậu hoa cẩm chướng đặt ngoài cửa sổ bị đè bẹp. Figaro nhanh chóng ứng biến, giả vờ khập khiễng và thú nhận rằn chính anh là người đã nhảy. Antonio lại cho rằng người mình nhìn thấy là Cherubino. Rosina và Susanna nhấn mạnh vào việc Antonio là người nghiện rượu, thường xuyên say sưa để lấp liếm câu chuyện. Antonio đưa cho bá tước tờ giấy do người chạy trốn đánh rơi (lệnh nhập ngũ của Cherubino). Almaviva yêu cầu Figaro xác minh. Dưới sự gợi ý kín đáo của Rosina và Susanna, Figaro đã trả lời chính xác. Đúng lúc này, Marcellina, Basilio và Bartolo ùa vào phòng, họ đòi mở một phiên toà xử Figaro vì anh không tôn trọng hợp đồng. Ngài bá tước rất thích thú với việc này vì nó cho ông một lí do để hoãn đám cưới lại (“Voi signor, che giusto siete”).

Màn III

Một hội trường sang trọng, có hai chiếc ghế sang trọng, được chuẩn bị cho lễ cưới.

Susanna nhắc bá tước về cuộc hò hẹn ở trong vườn (“Crudel, perchè finora”). Tuy nhiên, bá tước đã nghi ngờ khi ông phát hiện ra âm mưu của Susanna và Figaro khi hai người trò chuyện riêng với nhau, ông ta thề rằng sẽ không để đám cưới xảy ra (“Hai già vinta la causa”). Ông quyết định sẽ trừng phạt Figaro bằng cách bắt anh cưới Marcellina.

Phiên tòa xét xử Figaro diễn ra sau đó và phán quyết của bá tước là Figaro phải cưới Marcellina. Figaro lập luận rằng anh không thể kết hôn nếu không có sự cho phép của cha mẹ, và anh không biết cha mẹ mình là ai, bởi vì anh đã bị bắt cóc khỏi họ từ khi còn nhỏ. Khi Figaro để lộ vết bớt trên cánh tay, Marcellina nhận ra rằng đó chính là đứa con trai thất lạc từ lâu của mình với Bartolo. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau. Chưa nắm bắt được câu chuyện, Susanna thấy vậy rất tức giận, cho đến khi cô biết sự thật. Bartolo, tràn ngập cảm xúc, đồng ý kết hôn với Marcellina vào tối hôm đó trong một đám cưới đôi (“Riconosci in questo amplesso”).

Trong chốc lát yên bình ấy, bá tước phu nhân kể về quá khứ hạnh phúc của mình (“E Susanna non vien… Dove sono”). Trong khi đó, Antonio báo cho bá tước biết Cherubino vẫn ở trong nhà mà chưa lên đường tới Seville. Rosina và Susanna lên kế hoạch gài bẫy bá tước. Rosina đọc cho Susanna viết một bức thư tình mời ngài bá tước tới khu vườn vào tối hôm đó (“Canzonetta sull’aria”).

Trong đám cưới, Cherubino, giờ đã cải trang thành một cô gái, xuất hiện cùng người yêu, Barbarina. Antonio, người đã tìm thấy chiếc mũ của Cherubino, cũng đến và tiết lộ danh tính của cậu ta. Bá tước vô cùng tức giận khi phát hiện Cherubino đã không vâng lời mình. Barbarina thông báo rằng khi cố gắng quyến rũ cô, bá tước đã hứa đồng ý với cô bất cứ điều gì cô muốn. Giờ đây, cô muốn cưới Cherubino. Bá tước đành miễn cưỡng đồng ý. Tất cả mọi người tập trung tại lễ cưới của Figaro và Susanna. Trong khi khiêu vũ với bá tước, Susanna đưa cho ông ta tờ giấy, được niêm phong bằng một chiếc ghim, xác nhận cuộc gặp gỡ của họ tối hôm đó (“Ecco la marcia”).

Màn IV

Khu vườn với hai gian nhà nhỏ. Đêm.

Vào ban đêm trong khu vườn, Barbarina tuyệt vọng vì đã làm mất chiếc trâm mà bá tước nhờ cô mang về cho Susanna, bằng chứng cho thấy ông đã nhận được thư của cô. Khi Figaro và Marcellina xuất hiện, Barbarina kể cho họ về cuộc hẹn bí mật giữa bá tước và Susanna. Tưởng rằng vị hôn thê của mình phản bội, Figaro nổi cơn ghen tuông và thề sẽ trả thù bá tước rồi bỏ đi. Marcellina than thở rằng các loài thú hoang dã có thể sống hòa thuận với nhau, nhưng con người thì không (“Il capro e la capretta”). Bà quyết định sẽ thông báo cho Susanna về việc này.

Giận dữ và ghen tuông, Figaro gọi Basilio và Bartolo đến trợ giúp. Basilio cho rằng Figaro thật ngu ngốc và cho biết rằng mình đã học được sự sáng suốt và bài học quan trọng là không nên chống lại những kẻ có quyền thế (“In quegli anni”). Sau đó, cả hai rời đi, để Figaro lại một mình. Figaro cay đắng than thở về sự không chung thuỷ của phụ nữ (“Tutto è disposto…Aprite un po’ quegl’ occhi”) và vội nấp đi khi thấy Rosina và Susanna tiến tới, nhưng không nhận ra trang phục của họ đã được hoán đổi. Marcellina đi theo đằng sau. Sau khi cả ba bàn bạc lại kế hoạch, Marcellina và bá tước phu nhân rời đi, chỉ còn lại Susanna. Biết được anh đang nấp gần đó, cô trêu chọc Figaro bằng cách cất lên khúc hát tình tứ gửi tới “người yêu dấu” (“Deh vieni non tardar”). Figaro tưởng rằng bài hát dành cho bá tước, anh càng lúc càng ghen tức.

Sau khi Susanna rời đi, bá tước phu nhân xuất hiện. Cherubino bắt đầu trêu chọc bà vì tưởng đó là Susanna. Almaviva tìm đến, giận dữ đuổi Cherubino đi. Vẫn tưởng vợ mình là Susanna, bá tước bắt đầu ve vãn cô, tặng một chiếc nhẫn. Khi họ rời đi, Susanna thật bước vào, vẫn trong trang phục bá tước phu nhân. Figaro lúc này đã nhận ra trò đùa, anh cũng tham gia náo nhiệt bằng cách giả bộ tán tỉnh Rosina. Mất bình tĩnh, Susanna xông vào tát anh. Lúc này, Figaro mới thú nhận anh đã nhận ra giọng nói của cô từ trước và cùng nhau giảng hoà (“Pace, pace, mio dolce tesoro”).

Bá tước tiến tới, giận dữ vì để Susanna (vốn dĩ là Rosina) chạy mất. Figaro đổ thêm dầu vào lửa bằng cách lớn giọng tuyên bố tình yêu của mình dành cho bá tước phu nhân (thực chất là Susanna). Giận dữ, bá tước kêu gọi tất cả mọi người đến chứng kiến (“Gente, gente, all’armi, all’armi”). Mọi người cầu xin ông tha thứ cho Figaro và “Bá tước phu nhân” nhưng Almaviva kiên quyết từ chối. Chỉ đến khi bá tước phu nhân thực sự bước vào, trên tay cầm chiếc nhẫn ông vừa tặng, Almaviva mới nhận ra người lúc trước mình tán tỉnh không phải là Susanna mà chính là vợ mình. Cuối cùng, sự thật cũng được phơi bày, bá tước cầu xin vợ mình tha thứ (“Contessa perdono!”). Mọi việc đều được hoà giải và rút cuộc cái ngày điên rồ ấy cuối cùng đã kết thúc (“A tutti contenti saremo cosi”).

Vở opera được ra mắt vào ngày 1/5/1786 tại nhà hát Burgtheater, Vienna dưới sự chỉ huy của Mozart. Đêm diễn đã rất thành công, năm trích đoạn đã được yêu cầu hát lại. Tuy nhiên, Le nozze di Figaro chỉ xuất hiện tất cả chín lần trong mùa diễn đó. Una cosa rara (Một điều hiếm có), vở opera khác cũng do Da Ponte viết lời với tác giả là Vincente Martin y Soler nổi lên sau đó đã khiến dân chúng Vienna say mê. Mặc dù vậy, Le nozze di Figaro vẫn chứng minh được sức sống mãnh liệt của mình. Tháng 12/1786, tác phẩm được giới thiệu với khán giả Prague. Tờ báo Prager Oberpostamtszeitung đã khẳng định: “đây là một tuyệt tác” và “không có tác phẩm nào từng gây được tiếng vang như vậy”. Thành công của Le nozze di Figaro đã mở ra một sự cộng tác giữa Mozart và Da Ponte, với hai vở opera sau đó là Don Giovanni (1787) và Così fan tutte (1790). Năm 2017, BBC News Magazine đã mời 172 ca sĩ opera bình chọn những vở opera hay nhất từng được viết và Le nozze di Figaro đã giành được vị trí thứ nhất. Tạp chí đã tôn vinh: “một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của opera hài hước, nơi cảm quan nhân văn sâu sắc tỏa sáng qua bản nhạc diệu kỳ của Mozart”.

Cobeo