“Ông đã để lại một di sản về việc vượt qua nghịch cảnh, thúc đẩy và tìm ra những cách khác nhau để thể hiện bản thân. Đó là một điều tuyệt vời cho các nghệ sĩ trẻ khi được tiếp xúc với một nghệ sĩ vĩ đại như vậy.” – Anne Midgette

Leon Fleisher là một tấm gương cho sự kiên cường, bất khuất, không bao giờ chịu từ bỏ. Là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất nước Mỹ, nổi tiếng từ khi còn rất trẻ, tưởng như tấm thảm đỏ của thành công và danh vọng đang trải dài trước mắt Fleisher thì căn bệnh quái ác loạn trương lực cơ cục bộ khiến ông mất khả năng kiểm soát các ngón tay của bàn tay phải khi mới ở tuổi 36. Mọi thứ sụp đổ trước mắt ông, tìm mọi biện pháp để cứu chữa những không thành công, Fleisher chìm sâu vào khủng hoảng và tuyệt vọng. Mối quan hệ của ông với người vợ thứ hai cũng bị tan vỡ. Thậm chí Fleisher đã từng nghĩ đến chuyện tự sát. Nhưng rồi, với tấm gương của Paul Wittgenstein, người nghệ sĩ người Áo bị đứt lìa cánh tay phải trong chiến tranh thế giới thứ hai vẫn tiếp tục sự nghiệp biểu diễn qua hàng loạt những tác phẩm chỉ dành cho tay trái, Fleisher đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời. Trở lại với cây đàn piano, cùng với đó công việc của một nhạc trưởng và giảng dạy đã giúp ông, như chính Fleisher nhận xét, có được một cuộc sống âm nhạc đa dạng hơn nhiều so với những gì ông có chỉ với tư cách một nghệ sĩ piano. Cùng với những tiến bộ của y học và sự nỗ lực không ngừng nghỉ của bản thân, năm 1995, cuối cùng ông đã có thể biểu diễn lại bằng cả hai tay, mang lại niềm vui không chỉ cho bản thân Fleisher mà cả những người yêu mến và kính trọng một nghệ sĩ tài ba và dũng cảm. Với những gì ông đã đóng góp và trải qua, Fleisher luôn chiếm một vị trí quan trọng, thậm chí là biểu tượng, trong số những nghệ sĩ piano Mỹ.

Leon Fleisher sinh ngày 23/7/1928 tại San Francisco trong một gia đình Do Thái. Cha của cậu, ông Isidor là một người thợ làm mũ đến từ Odessa còn mẹ, bà Bertha Mittelman quê ở Chelm, một thị trấn nhỏ tại Ba Lan. Họ di cư đến Mỹ sau thế chiến thứ nhất và gặp nhau tại hạ Manhattan vả rồi chuyển đến San Francisco. Bà Bertha chính là người có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp của Leon. Fleisher sau này cho biết: “Bà đã cố gắng dành những điều tốt đẹp nhất cho gia đình mình và bà sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Mẹ chắc chắn có những ước mơ lớn đối với tôi. Tôi sẽ trở thành tổng thống Do Thái đầu tiên hoặc một nghệ sĩ piano tuyệt vời. Dù là người thế nào, tôi cũng phải trở nên hoàn hảo… Cây đàn piano được mua cho Ray, anh trai tôi, lớn hơn tôi 5 tuổi”. Nhưng sau mỗi bài học, Raymond lại chạy đi chơi còn Leon ngồi lại bên cây đàn, chơi đi chơi lại những gì anh mình vừa mới học được. Có thể dễ dàng nhận ra ai sẽ trở thành nghệ sĩ piano. Lên 4 tuổi, Leon chính thức được học piano. Bertha đã tận tâm với việc chơi đàn của Leon đến nỗi khi chỉ sau hai tuần cậu phản đối việc phải ngủ trưa khi học mẫu giáo, bà đã cho con trai mình ở nhà, thuê gia sư để con trai mình có thêm thời gian tập piano. Năm 8 tuổi, cậu bé đã có buổi biểu diễn chính thức đầu tiên của mình tại San Francisco Community Playhouse. Khi nhận thấy tài năng của cậu con trai vượt xa khả năng giảng dạy của những thầy giáo, dưới sự tư vấn của Alfred Hertz, người nguyên là giám đốc âm nhạc của San Francisco Symphony Orchestra, bà Bertha đã đề nghị nghệ sĩ piano lừng danh Artur Schnabel dạy học cho con trai mình. Schnabel có một quy tắc – không nhận học sinh dưới 16 tuổi. Ông không muốn phí phạm thời gian của mình cho những việc cơ bản. Tuy nhiên, trong một bữa tiệc tối tại nhà của Hertz, cậu bé Leon 9 tuổi đã hoàn toàn khiến Schnabel bị bất ngờ. Ông đã quyết định dành một sự ngoại lệ cho Leon với quy định không cho phép cậu được biểu diễn. Và hai mẹ con cậu bé đã vượt Đại Tây Dương để tới lớp học của Schnabel tại ven hồ Como, Ý.

Nhưng chỉ ít lâu sau, năm 1939, Schnabel đến sinh sống tại New York trong bối cảnh thế chiến thứ hai đang đến gần. Cũng vì vậy, hai mẹ con Leon đã theo về nước Mỹ. Quy định của Schnabel được dỡ bỏ, ngày 4/11/1944, dưới sự chỉ huy của Pierre Monteux, lần đầu tiên Leon có màn biểu diễn cùng New York Philharmonic tại Carnegie Hall trong piano concerto số 1 của Johannes Brahms khi mới 16 tuổi. Monteux đã gọi chàng trai trẻ là “phát hiện piano của thế kỷ”. Còn nhà phê bình âm nhạc Noel Straus của New York Times ngạc nhiên trước sức mạnh tinh tế và sự dễ dàng trong việc thành thạo bản concerto phức tạp của Brahms, đã gọi Leon là “một trong những tài năng đáng chú ý nhất của thế hệ nghệ sĩ piano trẻ tuổi nước Mỹ”. Năm 1945, tại lễ hội mùa hè Ravinia ở Illinois, Leon đã chơi lại piano concerto số 1 của Brahms – một trong những tác phẩm đặc trưng của mình – cũng như piano concerto số 2 của Liszt cùng Leonard Bernstein và Chicago Symphony Orchestra. Mùa hè tiếp theo ở Ravinia, Leon tiếp tục được mời biểu diễn dưới sự chỉ huy của William Steinberg và George Szell, người đã mời anh cộng tác cùng Cleveland Orchestra sau đó. Bất chấp việc trở nên nổi tiếng, ảnh hưởng của Schnabel lên Leon là quá lớn đến mức anh gần như hoàn toàn phụ thuộc vào đó. Để có thể thoát ra khỏi cái bóng khổng lồ của người thầy và phải bắt đầu trên con đường riêng của mình, Leon đã có một khoảng thời gian trôi dạt trong những năm tháng thanh niên trước khi kết thúc tại Paris, hạn chế biểu diễn, tập trung rèn luyện bản sắc riêng với tư cách một nghệ sĩ piano.

Năm 1952, cuộc thi piano quốc tế mang tên Nữ hoàng Elisabeth lần thứ hai được tổ chức tại Brussels với ban giám khảo gồm những cái tên như Marguerite Long, Rudolf Firkušný hay Arthur Rubinstein. Người đoạt giải nhất trong cuộc thi đầu tiên là nghệ sĩ piano vĩ đại Emil Gilels. Fleisher chính là người xuất sắc kế nhiệm Gilels. Ban đầu ông không định tham gia cho đến khi nhận được lời đề nghị của Bộ Ngoại giao Mĩ. Trong đêm chung kết, ông đã hoàn toàn chinh phục ban giám khảo với tác phẩm “tủ” – piano concerto số 1 của Brahms. Fleisher hồi tưởng: “Chiến thắng thật ngọt ngào. Điều đó đã bắt đầu sự nghiệp thứ hai của tôi”. Vinh quang của cuộc thi đã mang đến cho ông một danh sách dài các buổi biểu diễn trên khắp châu Âu và cùng với đó là một hợp đồng thu âm độc quyền cho Columbia Masterworks. Fleisher chuyển đến sinh sống tại Hà Lan và sau đó là Ý trước khi trở về Mỹ vào năm 1958. Ngay lập tức, Fleisher chấp nhận lời đề nghị giảng dạy tại nhạc viện Peabody, Baltimore mặc dù ông vẫn tiếp tục theo đuổi một lịch trình biểu diễn và thu âm dày đặc. Cùng với Szell và Cleveland Orchestra, ông đã thu âm trọn bộ các piano concerto của Ludwig van Beethoven và Brahms. Đây chính là một trong những thành tựu tuyệt vời nhất của Fleisher. Chúng là tiêu chuẩn cho sự rõ ràng, chính xác và tính biểu cảm tuyệt đối trong âm nhạc. Giữa ông và Szell đã hình thành một sợi dây liên kết đáng kinh ngạc, họ trở thành một cặp bài trùng ăn ý và toả sáng cùng nhau.

Fleisher viết trong hồi ký: “Tôi đã làm việc cật lực, thậm chí là nặng nhọc hơn nữa để có được những thành công của mình. Luôn luôn có nhiều thứ để đạt tới, nhiều thứ khác để giành về cũng như nhiều chiều sâu âm nhạc hơn để thăm dò và ẩn sau tất cả là nguy cơ thất bại đáng sợ”. Đầu thập niên 60, Fleisher đã trở thành một trong những nghệ sĩ piano tài năng và được nể trọng nhất nước Mỹ. Một tương lai xán lạn đang trải dài trước mắt ông. Trong ông đầy ắp những kế hoạch biểu diễn và ghi âm. Fleisher đã dự định tổ chức lễ kỷ niệm nhân dịp 20 năm ngày ông ra mắt cùng New York Philharmonic bằng 20 chương trình hoà nhạc, chỉ tính riêng tại New York vào năm 1964 và chuyến lưu diễn tại Liên Xô vào mùa xuân năm 1965 cùng Szell và Cleveland Orchestra trong piano concerto số 25 của Wolfgang Amadeus Mozart.

Tuy nhiên, một tai nạn đã xảy ra vào mùa đông năm 1963 và biến mọi ý tưởng của ông trở nên vô nghĩa. Fleisher nhớ lại: “Tôi đang chuẩn bị cho chuyến lưu diễn quan trọng nhất đời mình thì bị một tai nạn nhỏ. Tôi bị đứt ngón tay cái vì một món đồ nội thất sân vườn rẻ tiền và phải khâu vài mũi. Khi tôi bắt đầu tập luyện trở lại, mọi thứ không như ý muốn trên tay phải. Các ngón tay thứ tư và thứ năm dường như muốn cuộn vào trong. Tôi thậm chí còn tập luyện chăm chỉ hơn, không lắng nghe cơ thể mình khi cơn đau đã cảnh báo tôi dừng lại. Mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ hơn và trong vòng chưa đầy một năm, hai ngón tay đó hoàn toàn cong xuống dưới, cắm vào lòng bàn tay. Không thể nào chơi đàn được”. Trước chuyến đi tại Liên Xô, Fleisher đã cố gắng chơi bản piano concerto số 25 của Mozart cùng Szell và Cleveland Orchestra. Fleisher đã vô cùng căng thẳng và rồi thú nhận rằng mình không thể tiếp tục lưu diễn. Người thay thế là Grant Johannesen. Sau đó mọi buổi biểu diễn bị huỷ bỏ, các hợp đồng ghi âm bị tạm ngừng vô thời hạn, Fleisher hồi tưởng lại quãng thời gian đen tối nhất trong cuộc đời mình: “Tôi đã hoàn bị bị phá huỷ. Cuộc sống của tôi sụp đổ và tình trạng suy nhược bí ẩn này đã làm tan vỡ mối quan hệ của tôi với người vợ thứ hai, tấn công mạnh mẽ vào gia đình tôi… Tôi cảm thấy không còn mục đích gì nữa; chỉ đơn giản là mất phương hướng”. Fleisher thậm chí còn không thể cầm được bút mà viết tên của mình. Nguyên nhân dẫn đến điều này theo Fleisher chính là ông đã làm việc quá sức trong nhiều năm, kể từ khi bắt đầu tập luyện cho cuộc thi ở Brussels với 7 đến 8 giờ tập luyện mỗi ngày mà Fleisher gọi là “ngu ngốc”. Các bác sĩ đã bối rối và không thể đưa ra phương pháp điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật nào đối với tình trạng của ông. Fleisher thậm chí đã từng nghĩ đến việc tự sát.

Sau vài năm chìm sâu trong tuyệt vọng, ban đầu ông chống lại việc biểu diễn các tác phẩm piano chỉ dành cho tay trái, do ông cảm thấy rằng như vậy vô hình trung đã thừa nhận rằng mình sẽ không bao giờ giành lại quyền kiểm soát tay phải. Nhưng cuối cùng Fleisher đã nhận ra rằng tình yêu của mình với âm nhạc vẫn hiện hữu, bất kể việc ông có còn chơi piano bằng cả hai tay nữa hay không: “Tôi nghĩ về Paul Wittgenstein, nghệ sĩ piano hòa nhạc người Áo bị đứt lìa cánh tay phải trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ông ấy đã đặt hàng các tác phẩm dành cho tay trái từ Richard Strauss, Korngold, Hindemith, Prokofiev, Ravel và Britten, vì vậy đã có tác phẩm piano để biểu diễn cho những người không sử dụng được tay phải. Và còn có bản chuyển soạn tuyệt vời của Brahms cho tay trái trong Chaconne của Bach vốn dành cho violin độc tấu. Cảm ơn Chúa là không phải tay trái của tôi đã ngừng hoạt động vì hiếm có tác phẩm nào chỉ dành cho tay phải. Có khoảng 1.000 bản cho tay trái – hầu hết đều khá tệ – nhưng piano concerto dành cho tay trái của Ravel, mà tôi chắc đã chơi hơn 1.000 lần khi chỉ huy nó từ phím đàn piano, là một kiệt tác theo đúng nghĩa”.

Năm 1967, Fleisher cuối cùng cũng biểu diễn trở lại khi cùng với Seiji Ozawa và Toronto Symphony Orchestra chơi bản piano concerto dành cho tay trái của Maurice Ravel và Diversions của Benjamin Britten. Năm 1968, cùng với nghệ sĩ piano Dina Koston, ông thành lập nhóm nhạc thính phòng The Theater Chamber Players. Kể từ đó, Fleisher bắt đầu sự nghiệp của một nhạc trưởng. Năm 1970, ông trở thành giám đốc âm nhạc của Annapolis Symphony Orchestra và từ năm 1973 là trợ lý nhạc trưởng cho Sergiu Comissiona tại Baltimore Symphony Orchestra. Fleisher hài hước nói về công việc mới của mình: “Tôi quyết định theo đuổi sự nghiệp âm nhạc thông qua việc chỉ huy, chuyển từ tư thế ngồi sang đứng. Cảm giác thật khác biệt khi đứng trên đôi chân của mình trước dàn nhạc, nhưng tệ hơn, tôi ngay lập tức cảm thấy mông mình to gấp 10 lần kích thước bình thường, vẫy xung quanh trước mặt khán giả”. Cùng với đó, công tác giảng dạy của ông tại nhạc viện Peabody đã được tiếp tục, Fleisher đã tìm thấy hạnh phúc thực sự khi trở thành thầy giáo. Để khắc phục tình trạng không thể thị phạm cho các sinh viên, Fleisher đã bù đắp lại bằng cách nói ra những ý tưởng của mình một cách rõ ràng hơn trước, suy nghĩ sâu sắc hơn về âm nhạc, để đưa vào ngôn từ những kỹ thuật và sắc thái mà trước đây là bản năng: “Tôi đã trở nên giỏi hơn nhiều trong việc giải thích những lĩnh vực biểu đạt và sắc thái khó nắm bắt mà rất khó diễn tả bằng lời nói”. Với việc dạy học này, Fleisher đã nối tiếp truyền thống có nguồn gốc từ Beethoven và lưu truyền qua nhiều thế hệ thông qua Carl Czerny, Theodor Leschetizky và Schnabel. Những nghệ sĩ piano nổi tiếng từng là học trò của Fleisher gồm có André Watts, Yefim Bronfman và Jonathan Biss.

Song song với việc hoạt động âm nhạc, Fleisher vẫn không ngừng tìm kiếm và thử nghiệm các phương pháp điều trị như tiêm cortisone, kéo co, châm cứu, thậm chí điều trị sốc và phẫu thuật não và đã tìm đến cả Thiền tông nhưng kết quả tiến triển vô cùng chậm chạp. Mọi việc dường như được cải thiện hơn vào năm 1982. Với kết quả của việc chỉ huy dàn nhạc và cầm đũa chỉ huy quá chặt, Fleisher đã bị mắc hội chứng ống cổ tay khi dây thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay và chỉ có thể giải quyết thông qua phẫu thuật. Fleisher đã chấp nhận và trong cuộc giải phẫu ông đã nghe bản giao hưởng số 1 của Gustav Mahler. Thật đáng ngạc nhiên, cuộc phẫu thuật không chỉ giải quyết ống cổ tay của Fleisher mà còn giúp cho các ngón tay duỗi thẳng ra: “Sau 18 năm tôi mới có thể chơi đàn lại. Tôi được mời biểu diễn nhân sự kiện phòng hoà nhạc mới Meyerhoff được mở ở Baltimore và New York Times đã đưa lên trang nhất việc tôi lần đầu có thể chơi bằng cả hai tay kể từ năm 1965”. Ban đầu Fleisher lựa chọn bản piano concerto số 4 của Beethoven nhưng rồi cuối cùng Symphonic variations của César Franck, một tác phẩm ngắn và ít phô trương hơn đã được dùng để thay thế. Hầu hết khán giả đều đánh giá rằng buổi biểu diễn đã diễn ra tốt đẹp. Nhưng bản thân Fleisher không hài lòng, gọi đó là “một buổi tối giả tạo”: “Tôi biết mọi thứ không hoàn toàn như chúng nên xảy ra. Tôi đã phải thay đổi chương trình đã được quảng bá từ piano concerto số 4 của Beethoven thành Symphonic variations của Franck. Đối với tôi, nó không giống như một sự trở lại đầy chiến thắng. Tôi đã rơi nước mắt trong phòng thay đồ trước buổi hoà nhạc và cảm thấy khủng khiếp khi phải trải qua một buổi tối vật vờ”.

Từ năm 1984, Fleisher trở thành giám đốc nghệ thuật của Tanglewood Music Center, học viện đào tạo các nhạc công tài năng tại ngôi nhà mùa hè của Boston Symphony Orchestra. Ông giữ vị trí này trong 13 năm và từ chức khi những mối quan hệ với Ozawa, giám đốc âm nhạc của dàn nhạc bắt đầu rạn nứt. Cuối cùng thì căn bệnh của Fleisher được xác định là loạn trương lực cơ cục bộ dẫn đến hoàn toàn mất kiểm soát đối với bàn tay phải. Fleisher cho rằng có thể chính Robert Schumann là một trong những bệnh nhân sớm nhất với những tổn thương vĩnh viễn khi sử dụng ngón tay thứ tư rắc rối của mình một cách máy móc. Từ năm 1991, ông đã bắt đầu tiêm botox trong những nỗ lực nhằm tiếp tục giành lại quyền kiểm soát tay phải. Từng liều nhỏ được tiêm trực tiếp vào cơ cùng với liệu pháp xoa bóp toàn diện liên quan đến các mô liên kết, được gọi là Rolfing đã phục hồi các ngón tay của Fleisher đủ để ông có thể trở lại biểu diễn bằng cả hai tay. Tháng 4/1995, Fleisher trở lại lần thứ hai trong lặng lẽ với piano concerto số 12 của Mozart cùng Theater Chamber Players và ngay sau đó là với Cleveland Orchestra tại Tanglewood. Chỉ sau khi đã chứng tỏ được với chính bản thân mình, Fleisher mới cảm thấy sẵn sàng tiếp tục sự nghiệp với tư cách là một nghệ sĩ piano bằng cả hai tay: “Không gì ngọt ngào hơn cảm giác những nốt nhạc rơi vào đúng vị trí. Tay phải hát, tay trái giữ thăng bằng trên phần dưới của phím đàn và bản nhạc phát triển thành một thứ gì đó hoàn chỉnh và trọn vẹn, một giấc mơ trở thành hiện thực”.

Fleisher thận trọng xây dựng lại các tiết mục đã không được ông biểu diễn trong 30 năm, kết hợp giữa các tác phẩm dành cho cả 2 tay, tay trái và 4 tay để ông có thể kết hợp cùng với người vợ thứ ba, vốn là học trò của chính ông tại nhạc viện Peabody, đánh dấu một sự trở lại phi thường. Các ngón tay vẫn có xu hướng cuộn lại và Fleisher phải tiêm botox 4 tháng/1 lần để giữ tình trạng trong phần kiểm soát. Dần dần, ông mở rộng danh mục biểu diễn của mình. Nếu như trong giai đoạn đầu sự nghiệp, sở thích âm nhạc của Fleisher gắn liền với các tác phẩm Cổ điển và Lãng mạn trường phái Đức – Áo, giống như Schnabel thì giờ đây, ông đã đi lạc vào lãnh thổ mà chính Schnabel đã tránh né hoặc phớt lờ như âm nhạc Pháp và Sergei Rachmaninov. Cùng với đó là những tác phẩm của Lukas Foss, Leon Kirchner hay William Bolcom được dành tặng cho chính ông.

Năm 2004, cùng Simon RattleBerlin Philharmonic, Fleisher đã lần đầu biểu diễn trên phạm vi toàn thế giới bản Klaviermusik của Paul Hindemith. Đây là tác phẩm dành cho piano tay trái và dàn nhạc được Hindemith sáng tác tặng Wittgenstein vào năm 1923. Tuy nhiên Wittgenstein tỏ ra không thích bản nhạc và từ chối biểu diễn. Cũng trong năm này, Vanguard Classics đã phát hành bản thu âm đầu tiên của ông chơi cả hai tay kể từ những năm 1960 có tên gọi “Hai bàn tay” với các tác phẩm của Johann Sebastian Bach, Claude Debussy hay Franz Schubert. “Hai bàn tay” cũng là tiêu đề một bộ phim tài liệu ngắn của Nathaniel Kahn về câu chuyện cuộc đời đáng kinh ngạc của Fleisher được đề cử giải Oscar vào năm 2007. Cuối năm 2007, Fleisher được trao tặng danh hiệu Kennedy Center Honors, vinh danh những cống hiến của ông cho nền văn hoá Mỹ với lời ca ngợi của Stephen A. Schwarzman, chủ tịch Kennedy Center: “Một nhạc công xuất sắc, người có sự nghiệp là tuyên ngôn cảm động cho sự khẳng định về sức mạnh của cuộc sống nghệ thuật”. Với sự cộng tác của nhà phê bình âm nhạc Anne Midgette, tháng 11/2010, Fleisher xuất bản cuốn hồi ký Chín cuộc đời. Fleisher tiếp tục biểu diễn cho đến năm ông 90 tuổi trong mùa diễn 2018-2019 tại Toronto, Ottawa và Montreal cũng như Carnegie Hall. Ngày 2/8/2020, Fleisher qua đời vì ung thư trong một viện dưỡng lão tại Baltimore ở tuổi 92. Một tuần trước đó ông vẫn dạy và tổ chức các lớp học trực tuyến về piano và chỉ huy dàn nhạc.

Dù rằng khi trở lại vào năm 1995, Fleisher chưa bao giờ giành lại được vinh quang như ông vốn từng có vào đầu những năm 1960 nhưng như thế đã là quá đủ cho một minh chứng thuyết phục và tuyệt vời về sự không bao giờ buông bỏ và tình yêu thiết tha dành cho âm nhạc. Không chịu đầu hàng trước số phận, với lòng nhiệt huyết cháy bỏng và tinh thần bất khuất, Fleisher là một anh hùng cho các thế hệ đi sau tôn sùng và noi theo. Mặc dù Fleisher không thể trở thành tổng thống nhưng với tư cách một nghệ sĩ piano, chắc chắn mẹ của ông sẽ luôn tự hào về con trai mình.

Ngọc Tú tổng hợp