Tác giả: Antonín Dvořák.
Tác phẩm: Concerto cello giọng Si thứ, Op. 104, B. 191
Thời gian sáng tác: Trong khoảng thời gian từ 8/11/1894 đến tháng 9/2/1895 tại New York. Sau khi trở về Czech, Dvořák đã sửa lại chương cuối và hoàn thành tác phẩm vào ngày 11/6/1895.
Công diễn lần đầu: Ngày 19/3/1896 tại London, Leo Stern độc tấu và tác giả chỉ huy London Philharmonic Society.
Độ dài: Khoảng 40 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho nghệ sĩ cello Hanuš Wihan.
Tác phẩm có 3 chương:
Chương I – Allegro
Chương II – Adagio, ma non troppo
Chương III – Finale: Allegro moderato – Andante – Allegro vivo
Thành phần dàn nhạc: Cello độc tấu, 2 flute (flute 2 kiêm piccolo), 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 3 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, triangle và dàn dây.

Dvořák đã viết tác phẩm này trong năm cuối cùng ông ở Mỹ. Dvořák không thực sự tỏ ra hào hứng với việc sáng tác cho nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc. Đến thời điểm đó ông mới chỉ có 2 bản concerto: concerto piano năm 1876 và concerto violin năm 1879. Chúng ta có thể hình dung thêm về điều này khi 24 tuổi, Dvořák đã viết một bản cho cello với phần đệm piano theo đề nghị từ phía một nghệ sĩ cello của Provisional Theatre Orchestra. Tuy nhiên, cái nhìn của Dvořák về tác phẩm này là kém cỏi và vô giá trị (bản thảo viết tay của tác phẩm này chỉ được tìm thấy 21 năm sau khi ông qua đời). Hơn nữa, Dvořák cũng không coi cello là một nhạc cụ độc tấu: theo một tài liệu còn sót lại, nó rên rỉ ở phía trên và cằn nhằn ở phía dưới.

Tuy nhiên, vào mùa thu năm 1894, Dvořák đã đột ngột quyết định sáng tác một concerto cello. Ông đã viết thư kể cho bạn mình Alois Gobl về quá trình sáng tác: “Tôi vừa hoàn thành chương I bản concerto cello. Đừng ngạc nhiên! Bản thân tôi cũng ngạc nhiên và tôi vẫn tự hỏi tại sao tôi lại dấn thân vào một công việc như thế này”. Một động lực chính thúc đẩy việc sáng tác của Dvořák là trải nghiệm của chính ông khi thưởng thức buổi biểu diễn ra mắt bản concerto cello số 2 giọng Mi thứ, Op. 30 của nhà soạn nhạc, nghệ sĩ cello Victor Herbert tại New York vào ngày 9/3/1894. Herbert là đồng nghiệp của Dvořák tại National Conservatory of Music of America, New York, nơi Herbert dạy cello và ông cũng là bè trưởng bè cello tại New York Philharmonic Society. Herbert đã tự mình chơi phần độc tấu trong tác phẩm mới này. Herbert cho biết bản Giao hưởng số 9 “Từ thế giới mới” của Dvořák đã truyền cảm hứng cho mình, một bằng chứng là 2 tác phẩm đều ở giọng Mi thứ. Theo lời kể lại của một người bạn thì Dvořák vô cùng ấn tượng với nhạc cụ độc tấu “đặc biệt tại một thời điểm, chỗ mà Herbert sử dụng 3 trombone nhưng khéo léo tới mức không hề che khuất cello mà ngược lại còn tôn lên vẻ đẹp của nhạc cụ độc tấu”. Dvořák chắc hẳn rất hứng thú với tác phẩm của Herbert, ông đã đi nghe lại vào ngày hôm sau và còn mượn tổng phổ về để nghiên cứu chi tiết thêm. Tuy nhiên, Dvořák chỉ thực sự tiến hành công việc vào ngày 8/11/1894, 6 tháng sau đó. Ông đã sáng tác trong 3 tháng, hoàn thành vào ngày 9/2/1895. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải bản cuối cùng. Vài tháng sau, sau khi trở về nước, ông đã hoàn toàn thay đổi phần cuối: sau ô nhịp 448, ông đã thay thế 4 ô nhịp bằng một phần mới gồm 64 ô nhịp, sau đó là một coda nguyên bản gồm 8 ô nhịp.

Nếu như hình thức tác phẩm phản ánh sự tán thưởng của Dvořák dành cho concerto của Herbert thì âm nhạc lại cho thấy những trải nghiệm của ông tại thời điểm cụ thể trong cuộc đời nhà soạn nhạc: sự lưu trú tại New York không còn mang đến cho ông niềm vui như hai năm trước, ông nhớ 2 đứa con và ngôi nhà của gia đình ở Vysoka và tin tức từ quê nhà mang đến những lo lắng khi thông báo tình trạng sức khoẻ đáng lo ngại của Josefína Čermáková, người phụ nữ mà ông đã yêu đơn phương khi còn trẻ và giờ là chị vợ ông. Sự hồi tưởng về Josefína xuất hiện trong chương II của bản concerto. Trong đoạn giữa, Dvořák đã lấy lại giai điệu của bài hát “Hãy để tôi yên” (từ tập liên khúc 4 bài hát, Op. 82) mà Josefina rất yêu thích. Sau khi nhà soạn nhạc trở về nước, Josefina qua đời và ông đã quyết định sửa lại phần cuối của bản concerto cello mà ông nghĩ là đã hoàn thành. Trong không gian tĩnh lặng trước khi kết thúc tác phẩm, ông bỗng nhiên giới thiệu lại chính xác giai điệu bài hát trên cho violin độc tấu. Toàn bộ đoạn nhạc này có thể được coi là bài điếu văn cho Josefina.

Sự thay đổi này đóng một vai trò cơ bản trong tổng thể âm nhạc của cả tác phẩm, điều mà Dvořák rất tự hào. Điều này có thể thấy rõ trong các trao đổi thư từ của nhà soạn nhạc cũng như trong sự bất đồng của ông với nghệ sĩ cello Hanus Wihan, người mà ông đề tặng bản concerto cello này. Wihan là bạn và đồng nghiệp của Dvořák tại Nhạc viện Prague. Theo lời mời của kiến trúc sư Josef Hlavka (người đã xây dựng Vienna State Opera), họ gặp nhau tại lâu đài Luzany vào tháng 9/1895 và cùng chơi tác phẩm mới này. Wihan đề nghị một số thay đổi nhỏ trong phần độc tấu, một vài chỗ trong đó được Dvořák chấp thuận. Ngoài ra, Wihan còn yêu cầu thay vì một phần nhạc trong nguyên gốc của Dvořák, một đoạn cadenza theo truyền thống sẽ được thay thế vào cuối chương kết, do Wihan tự đảm nhiệm. Phần kết thúc thân mật bản concerto này của Dvořák hiển nhiên cho thấy nghệ sĩ độc tấu không có cơ hội để phô diễn trình độ kỹ thuật của mình. Đề xuất này được xem như là thiếu sự hiểu biết cơ bản về tác phẩm. Tuy nhiên, không có tài liệu nào cho thấy Wihan nắm rõ quá trình hình thành nên bản concerto này. Với tính trầm lặng ít nói của mình, nhiều khả năng Dvořák sẽ không tiết lộ. Dvořák ngay lập tức từ chối phần cadenza của Wihan, biện minh cho quyết định này rằng mình đã thương thuyết với Simrock về việc xuất bản tác phẩm. Vào ngày 3/10/1895, Dvořák viết cho Simrock, nêu rõ những điều sau: “Tôi nhất định rằng tác phẩm phải được xuất bản đúng như những gì tôi đã viết. Tôi đưa cho ông tác phẩm của mình nếu như ông hứa với tôi rằng không một ai – kể cả người bạn đáng ngưỡng mộ Wihan – có thể thực hiện bất cứ thay đổi nào trong đó mà tôi không được biết và cho phép và sẽ không có cadenza nào do Wihan viết trong chương cuối. Tóm lại, nó phải như cách mà tôi cảm nhận và nghĩ ra. Cadenza trong phần cuối không có trong tổng phổ, hoặc trong ấn bản với piano; tôi đã nói với Wihan ngay khi anh ấy đưa ra rằng không thể sửa đổi tác phẩm theo cách này. Chương cuối kết thúc dần dần trong một diminuendo, như một hơi thở chậm rãi – với những hồi tưởng lại chương I và II – phần độc tấu dần biến mất trong pianissimo, sau đó là một đoạn nhạc với cường độ tăng dần, cả dàn nhạc chiếm các ô nhịp cuối, kết thúc đầy bão tố. Đó là ý tưởng của tôi và tôi không thể từ bỏ nó”.

Trong cách biểu hiện về tổng thể, bản concerto cello về cơ bản là khác biệt với các tác phẩm chính khác trong thời kỳ “Mỹ” của nhà soạn nhạc. Đó không phải là thứ âm nhạc được viết dưới ảnh hưởng lớn của môi trường mới xung quanh như bản giao hưởng “Từ thế giới mới”, cũng không phải sự biểu lộ niềm hạnh phúc và sự thoả mãn như trong Tứ tấu đàn dây số 12 “American” giọng Pha trưởng, Op. 96. Tông màu chính của tác phẩm là u buồn nhưng không hề có chút cam chịu nào trong vô vọng. Đây là một trong những tác phẩm sâu sắc và nhiều tâm tư nhất của Dvořák, một tác phẩm mang tính chiêm nghiệm thâm thuý nhưng lại có tính biểu đạt đồ sộ và không thiếu sự phóng khoáng. Nó cũng khác 2 bản concerto còn lại của Dvořák khi nhấn mạnh hơn nữa sự hiện diện của dàn nhạc, đạt đến sự cân bằng với nghệ sĩ độc tấu xuyên suốt tác phẩm, nên một số người còn nhận định rằng tác phẩm này là bản giao hưởng số 10 của ông. Trong phần độc tấu, Dvořák đã sử dụng lý tưởng toàn bộ âm thanh mà một cây cello có thể tạo ra: trên hết là khả năng hùng biện, có thể truyền tải được những giai điệu khoáng đạt, bao la, có thể hát lên được (cantabile). Dòng chảy âm nhạc du dương được thực hiện gần như liên tục, cũng như những cách tân trong việc phối khí của ông (ví dụ như cuộc đối thoại giữa cello và flute trong chương I) và cấu trúc tổng thể của tác phẩm là minh chứng thuyết phục nhất cho sáng tạo âm nhạc siêu hạng của nhà soạn nhạc. Bản thân Dvořák nhận thức rõ chất lượng rất cao của tác phẩm, dựa trên những trao đổi thư từ còn sót lại của ông. Ngày 11/3/1895, ông thông báo cho nhà soạn nhạc Josef Bohuslav Foerster: “Tôi vừa hoàn thành một concerto cello và và tôi nói với anh rằng chắc chắn tác phẩm này vượt xa cả 2 bản concerto kia của tôi. Đừng ngạc nhiên khi tôi viết điều này cho anh, tự sướng thật không đáng tin cậy nhưng tôi phải nói với anh rằng tác phẩm này mang lại cho tôi niềm vui thuần khiết và tôi nghĩ rằng mình sẽ không nhầm”.

Bản concerto có diện mạo theo dạng truyền thống với kết cấu 3 chương. Chương I có hình thức sonata mở đầu với phần giới thiệu dài bất thường của dàn nhạc với 86 ô nhịp, trong đó bộc lộ cả 2 chủ đề chính. Chủ đề một bắt đầu với âm khu thấp của clarinet và bassoon, trên phần đệm của viola, cello và double bass. Việc sử dụng hợp âm 7 thứ ở ô nhịp thứ 2 cho thấy sự liên kết của chủ đề chính với cái gọi là thời kỳ “Mỹ” của nhà soạn nhạc. Chủ đề hai là một giai điệu trữ tình tuyệt đẹp được horn độc tấu gần như là đại diện cho tính chất của tác phẩm. Dvořák sau này lưu ý rằng nó đã khiến ông “mất rất nhiều suy nghĩ” để tìm kiếm được chính xác và “tôi cuối cùng đã tìm được thứ tôi muốn”. Dvořák chắc hẳn phải có tình cảm mãnh liệt với chủ đề thứ 2 vì mặc dù nổi tiếng là người có thể kiềm chế cảm xúc bản thân, ông đã nói về giai điệu này trong bức thư gửi cho Gobl: “Mỗi lần tôi chơi nó, tôi hoàn toàn run rẩy”. Phần phát triển chỉ xuất hiện chủ đề một, trải qua tất cả các cách thức biến đổi và liên quan đến toàn bộ các biến thể du dương của chương nhạc. Với biến tấu trên chủ đề chính ở giọng trưởng, phần tái hiện giới thiệu một tâm trạng lạc quan hơn và dẫn tới một coda choáng ngợp.

Chương II là một trong những biểu lộ trữ tình sâu sắc nhất của Dvořák. Chương nhạc bắt đầu trong tĩnh lặng với không khí đồng quê trên kèn gỗ rồi đột ngột bị phá vỡ trong tiếng bùng nổ của dàn nhạc, hồi tưởng lại giai điệu của bài hát “Hãy để tôi yên” (từ tập liên khúc 4 bài hát, Op. 82) như để nhớ lại những kí ức tươi đẹp về mối tình đơn phương với Josefina (lúc này đang ốm rất nặng). Chương nhạc khép lại với phần độc tấu của cello được bao quanh bằng những giai điệu tinh tế nhất của kèn gỗ.

Chương cuối được viết theo hình thức rondo, nhưng theo bản chất về cách đối xử với các chủ đề, nó khác xa so với một rondo truyền thống ở chương cuối. Dòng chảy tự sự hiển nhiên của chương nhạc (và của toàn bộ tác phẩm) được tăng cường với sự phát triển hài hoà từ chủ đề chính giọng Si thứ sang giọng trưởng. Theo cách tiếp cận “từ bóng tối đến ánh sáng” này, dường như phản ánh niềm vui sướng của Dvořák khi được trở về quê nhà: chương cuối của tác phẩm được viết sau vài tuần trước khi ông rời New York. Ở đây, Dvořák đã sử dụng lại chủ đề chính của chương I trên clarinet để củng cố tính tuần hoàn của bản nhạc. Đau buồn về cái chết của Josefina, ông đã mở rộng phần kết của tác phẩm: một đoạn nhạc âu yếm thấm thía được dàn nhạc chơi rất giản dị bắt đầu với violin độc tấu và lại là “Hãy để tôi yên”. Cung cấp sự tương phản lớn nhất có thể đối với giai điệu đầy trầm tư mặc tưởng này, theo sau là một coda ngắn kết thúc tác phẩm với cường độ tăng dần rồi dàn nhạc chơi fortissimo đầy bão tố.

Trên thực tế, Dvořák đã rất muốn Wihan là người đầu tiên trình diễn tác phẩm này. Tuy nhiên, lịch biểu diễn buổi ra mắt bản concerto do phía dàn nhạc tại London ấn định lại xung đột với các chương trình của Czech Quartet mà Wihan là một thành viên. Vì vậy, nghệ sĩ cello người Anh Leo Stern đã thay thế Wigan.

Dvořák đã từng hoài nghi cello, từng vứt bỏ 1 bản thời trẻ và giờ đây ông đã có một trong những concerto cello tuyệt diệu nhất trong kho tàng nhạc cổ điển của nhân loại. Và Brahms khi lần đầu chứng kiến tác phẩm này đã thốt lên: “Tại sao tôi không biết trên thế giới lại có một người sáng tác được một concerto cello như thế này? Nếu biết, tôi đã thực hiện nó từ lâu rồi”.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
cso.org
sfsymphony.org
antonin-dvorak.cz