Saint Petersburg Philharmonic, được thành lập năm 1882 tại thành phố Saint Petersburg, là dàn nhạc giao hưởng lâu đời nhất tại Nga. Ngày 16/7/1882, Hoàng đế Alexander III đã ban bố một sắc lệnh thành lập Dàn hợp xướng âm nhạc hoàng gia, tiền thân của Saint Petersburg Philharmonic. Mục đích ban đầu khi thành lập Dàn hợp xướng âm nhạc hoàng gia này chủ yếu để phục vụ cho các nghi lễ của triều đình. Trải qua hơn 130 năm hoạt động, qua nhiều lần đổi tên, ngày nay Saint Petersburg Philharmonic đã trở thành “dàn nhạc của những nhạc công ưu tú trên toàn cầu và là dàn nhạc có ý nghĩa lịch sử nhất nước Nga”. Trong những tháng ngày hào hùng nhất của mình, cho đến tận ngày nay, Saint Petersburg Philharmonic vẫn được coi là một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất trên thế giới. Phòng hoà nhạc chính của dàn nhạc là phòng hoà nhạc lớn (Grand hall) của Saint Petersburg Philharmonia, nằm ở trung tâm thành phố Saint Petersburg. Phòng hoà nhạc được hoàn thành vào năm 1839 có sức chứa 1.500 chỗ ngồi và là một trong những phòng hoà nhạc danh giá và tốt nhất tại Nga. Đây cũng là phòng hoà nhạc chính của Saint Petersburg Academic Symphony Orchestra.
Nhạc trưởng đầu tiên của dàn nhạc là chỉ huy người Đức Hermann Fliege. Ông gắn bó với Saint Petersburg Philharmonic cho đến khi qua đời vào năm 1907. Năm 1897, Saint Petersburg Philharmonic được đổi tên thành Dàn nhạc hoàng gia và bắt đầu các chương trình hoà nhạc bán vé cho công chúng cũng như thực hiện lưu diễn tới các thành phố khác trên nước Nga. Trong giai đoạn này, số lượng nhạc công của dàn nhạc lên đến hơn 100 thành viên.
Sau khi Hermann Fliege qua đời, nhạc trưởng người Czech Hugo Varlich là người thay thế. Là một nhạc trưởng tài năng, người có thể biểu diễn các tác phẩm hết sức phức tạp, Varlich trở thành một nhân vật nổi bật thời bấy giờ. Tháng 1/1909, cùng Saint Petersburg Philharmonic, ông chỉ huy trong buổi lần đầu ra mắt tại Nga tác phẩm The Poem of Ecstasy của Alexander Scriabin. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, Varlich cho biết: “Tôi đã yêu âm nhạc Nga mãi mãi và tôi nghĩ rằng nó nên nghe hay nhất ở Nga”. Trong nhiệm kỳ của mình, ông đã lên lịch biểu diễn định kỳ các tác phẩm âm nhạc của những nhà soạn nhạc Nga như Peter Ilyich Tchaikovsky, Sergei Rachmaninov, Scriabin và một số nhạc sĩ khác. Cũng trong giai đoạn này, các nhạc trưởng như Richard Strauss và Artur Nikisch đã được mời đến cộng tác với dàn nhạc trong vai trò nhạc trưởng khách mời.
Sau cuộc Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, dàn nhạc được Hồng quân tiếp quản và được đổi tên thành Petrograd State Symphony Orchestra và vị trí nhạc trưởng chính của dàn nhạc cũng được chuyển giao cho Serge Koussevitzky. Sau một thời gian dài hoạt động thành công tại châu Âu, Koussevitzky đã trở về Nga và gắn bó với dàn nhạc trong 3 năm. Sau đó ông chuyển tới Paris rồi Mỹ, nơi ông làm giám đốc âm nhạc của Boston Symphony Orchestra. Ngày 18/4/1918, Sergei Prokofiev đã chỉ huy dàn nhạc trong buổi ra mắt Giao hưởng số 1 “Cổ điển” của ông.
Nhạc trưởng Emil Cooper được chỉ định là người thay thế. Năm 1921, dàn nhạc được đổi tên thành Petrograd Philharmonic và bắt đầu nhận được sự hỗ trợ của Liên bang. Giai đoạn này, nhiều nhạc trưởng khách mời danh tiếng trên thế giới đã được mời đến chỉ huy dàn nhạc như Felix Weingartner, Bruno Walter, Otto Klemperer, Dimitri Mitropoulos, Ernest Ansermet, Hans Knappertsbusch hay Vaclav Talikh. Với sự xuất hiện của những nhạc trưởng này, danh mục biểu diễn của dàn nhạc đã được mở rộng với nhiều tác phẩm hiện đại của Igor Stravinsky, Arnold Schoenberg, Alban Berg, Paul Hindemith, Arthur Honegger và Francis Poulenc. Vladimir Horowitz cũng xuất hiện với tư cách nghệ sĩ độc tấu. Với sự hợp tác cùng những nhạc trưởng lừng danh hàng đầu thế giới, trình độ dàn nhạc đã được nâng lên đáng kể. Năm 1923, Cooper chia tay với dàn nhạc, sau đó tới Paris rồi làm giám đốc âm nhạc của Latvian National Opera trong 3 năm và chuyển tới Mỹ, nơi ông có một sự gắn bó khá chặt chẽ với Metropolitan Opera.
Ngày 24/1/1924, chỉ 5 ngày sau khi Lenin qua đời, thành phố Petrograd được đổi tên thành Leningrad và dàn nhạc cũng ngay lập tức được đổi tên thành Leningrad Philharmonic. Nhạc trưởng chính của dàn nhạc trong giai đoạn này là Valery Berdyaev. Gắn bó với dàn nhạc từ năm 1924 đến 1926, sau đó Berdyaev đến sinh sống và làm việc tại Ba Lan và qua đời tại đây.
Giáo sư giảng dạy tại nhạc viện Leningrad Nikolai Malko, một nghệ sĩ rất nổi tiếng thời bấy giờ là nhạc trưởng tiếp theo của Leningrad Philharmonic. Các chương trình biểu diễn của Malko nổi tiếng với sự diễn giải sống động và sự chính xác về mặt kỹ thuật một cách hoàn hảo. Trong những năm tháng gắn bó với dàn nhạc, Malko đã chỉ huy lần đầu trên phạm vi toàn thế giới các bản Giao hưởng số 1 (12/5/1926), Giao hưởng số 2, được đề tặng cho chính Malko (5/11/1927) của Dmitri Shostakovich cũng như bản Giao hưởng số 5 của Nikolai Myaskovsky. Malko kết thúc nhiệm kỳ chỉ huy tại Leningrad Philharmonic vào năm 1930 và trở thành nhạc trưởng khách mời tại nhiều dàn nhạc nổi tiếng trên thế giới.
Aleksandr Gauk là người kế tục Nikolai Malko vào năm 1930. Trong nhiệm kỳ của mình, Gauk đã có buổi công diễn lần đầu bản Giao hưởng số 3 “Ngày 1/5” của Shostakovich vào ngày 6/11/1931. Gauk thường xuyên biểu diễn các tác phẩm mới của những nhà soạn nhạc như Shostakovich, Myaskovsky hay Khachaturian. Ông cũng được biết đến với tư cách phối khí cho dàn nhạc tác phẩm Bốn mùa của Tchaikovsky. Sau khi rời Leningrad Philharmonic, Gauk trở thành giám đốc của State Academic Symphony Orchestra mới được thành lập tại Moscow.
Nhạc trưởng người Áo Fritz Stiedry rời khỏi nước Đức vào năm 1933 khi Hitler lên nắm quyền. Ông tới Liên Xô và được làm nhạc trưởng chính của Leningrad Philharmonic vào năm 1934. Trước đó, ngày 15/10/1933, ông chỉ huy trong đêm diễn ra mắt bản Concerto piano số 1 của Shostakovich với nhà soạn nhạc đảm nhiệm bè piano và Alexander Schmidt chơi trumpet. Ông cũng chính là nhạc trưởng đảm nhiệm dàn dựng bản Giao hưởng số 4 của Shostakovich vào cuối năm 1936 nhưng vì nhiều lý do đã bị hoãn, không được biểu diễn. Stiedry, người từng theo học với Gustav Mahler, là một nhạc trưởng tài năng, đặc biệt trong các tác phẩm của Richard Wagner, Anton Bruckner và người thầy của mình Mahler. Mùa hè năm 1937, khi ông đang đi nghỉ tại quê nhà thì nhận được tin chính quyền Xô viết yêu cầu tất cả các nhạc trưởng nước ngoài làm việc tại Liên Xô phải nhập quốc tịch Liên Xô. Ông đã từ chối và dưới sự giúp đỡ của Schoenberg, Stiedry đã tới Mỹ và thực hiện nhiều chương trình biểu diễn tại đây.
Người trở thành nhạc trưởng tiếp theo của Leningrad Philharmonic là Evgeny Mravinsky, từng là học trò của Malko và Gauk. Mravinsky từng cộng tác lần đầu cùng dàn nhạc vào năm 1931. Ngày 21/11/1937, ông chỉ huy cùng dàn nhạc trong đêm diễn ra mắt bản Giao hưởng số 5 của Shostakovich, mở đầu cho một sự gắn bó chặt chẽ giữa nhạc trưởng – nhà soạn nhạc trong suốt nhiều năm sau đó. Tháng 9/1938, ông giành giải nhất trong một cuộc thi chỉ huy toàn Liên bang tại Xô viết và chỉ một tháng sau được chỉ định làm nhạc trưởng của Leningrad Philharmonic. Mravinsky đã gắn bó với dàn nhạc trong suốt 50 năm và chỉ từ giã khi ông qua đời vào năm 1988. Dưới sự dẫn dắt của Mravinsky, Leningrad Philharmonic được coi là một trong những dàn nhạc tuyệt vời nhất trên thế giới. Cùng nhau, họ đã công diễn ra mắt lần đầu nhiều tác phẩm trên phạm vi toàn thế giới như bản Giao hưởng số 6 của Prokofiev (11/10/1947), Giao hưởng số 3 (thơ giao hưởng) của Aram Khachaturian (13/12/1947) và đặc biệt không thể không kể đến các tác phẩm của Shostakovich, thể hiện một mối quan hệ bền chặt giữa hai nghệ sĩ vĩ đại: bản Giao hưởng số 6 (21/11/1939), Giao hưởng số 9 (3/11/1945), oratorio Song of the forests (15/11/1949), Giao hưởng số 10 (17/12/1953), Concerto violin số 1 (29/10/1955 với David Oistrakh độc tấu), Concerto cello số 1 (4/10/1959 với Mstislav Rostropovich độc tấu) và Giao hưởng số 12 “Năm 1917” (1/10/1961).
Từ năm 1941-1960, nhạc trưởng người Đức Kurt Sanderling được bổ nhiệm làm nhạc trưởng khách mời chính của dàn nhạc. Sau khi phát xít Đức tấn công Liên Xô, Mravinsky và dàn nhạc phải sơ tán về Novosibirsk, Siberia. Tại đây trong 3 năm, họ đã thực hiện 538 buổi hòa nhạc với sự tham dự của hơn 400.000 người. Vượt trên tất cả, họ biểu diễn hơn 200 buổi hoà nhạc để phát trên đài phát thanh. Tháng 9/1944, họ quay trở về Leningrad và những nhà phê bình nhận ra dàn nhạc đã có sự tiến bộ vượt bậc. Tháng 2/1946, dàn nhạc có chuyến lưu diễn nước ngoài lần đầu tiên, đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử một dàn nhạc Nga ra nước ngoài biểu diễn. Họ biểu diễn tất cả 9 buổi ở Phần Lan và đều bán hết vé đồng thời nhận được nhiều lời khen ngợi liên tục trên các tờ báo địa phương. Tờ Uusi Suomi đã kinh ngạc nói rằng: “Các buổi hoà nhạc giống như một bữa tiệc hiếm có mà người ta có thể đợi hàng năm để thưởng thức. Bạn không thể thấy rằng nhạc trưởng và dàn nhạc ngày nào cũng biểu diễn hòa hợp một cách ngạc nhiên như vậy, như cách mà Mravinsky dẫn dắt dàn nhạc của mình”. Tháng 6/1956, lần đầu Mravinsky và Leningrad Philharmonic có chuyến lưu diễn tại các nước Tây Âu, họ thực hiện các chương trình hoà nhạc tại Tây Đức, Áo và Thuỵ Sĩ. Tháng 9/1960, họ biểu diễn tại Royal Festival Hall, London và Lễ hội Edinburgh. Kể từ đó, dàn nhạc thường định kỳ lưu diễn nước ngoài 2 năm một lần, trong đó nhiều nhất là ở Áo (8 lần) và Nhật Bản (6 lần, lần đầu vào tháng 5/1973).
Mravinsky và Leningrad thực hiện các bản ghi âm trong phòng thu từ năm 1938-1961. Sau đó, Mravinsky ngừng thực hiện điều này và chỉ cho phép thu trực tiếp trong chương trình hoà nhạc. Bản thu âm cuối cùng của họ là vào tháng 4/1984 với bản Giao hưởng số 12 của Shostakovich. Là nhạc trưởng có phong thái chỉ huy điềm đạm, Mravinsky không bao giờ dễ dãi với nhạc công và hơn hết, với chính bản thân mình. Ông thường ít nói, đề cao tính kỷ luật, luôn đến các buổi tập sớm hơn 30 phút để chuẩn bị mọi thứ thật kỹ lưỡng và khi ông bước ra sân khấu thì âm nhạc sẽ bùng nổ. Nhà phê bình David Fanning đã nhận xét về màn biểu diễn của Mravinsky cùng Leningrad Philharmonic trong âm nhạc của Tchaikovsky: “Leningrad Philharmonic biểu diễn như một con chiến mã hoang dã, chỉ bị kiểm soát bằng ý chí đầy sức mạnh của chủ nhân. Mỗi chuyển động nhỏ nhất đều diễn ra với niềm kiêu hãnh mãnh liệt; bất cứ lúc nào nó cũng có thể lao vào một cuộc phi nước đại điên cuồng đến mức bạn khó có thể biết mình vui mừng hay sợ hãi”. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1970 trên Đài truyền hình Leningrad, khi được hỏi ông làm thế nào để lựa chọn một cách giải thích cụ thể về âm nhạc mà mình trình diễn, Mravinsky giải thích rằng ông cố gắng hiểu ý định của nhà soạn nhạc bằng cách đắm mình trong “bầu khí quyển” của âm nhạc.
Một số nhạc trưởng làm trợ lý cho Mravinsky trong giai đoạn này là cha con nhà Jansons: Anvis và Mariss và Yuri Temirkanov, người sau này sẽ thay thế chính Mravinsky để trở thành nhạc trưởng tiếp theo của Leningrad Philharmonic. Một số nhạc trưởng và nghệ sĩ biểu diễn phương Tây cũng được mời đến biểu diễn cùng dàn nhạc như Leopold Stokowski, Lorin Maazel, Kurt Masur, Zubin Mehta, Van Cliburn, Glenn Gould, Isaac Stern, Arturo Benedetti Michelangeli. Và đương nhiên không thể không kể tới sự góp mặt của những tài năng âm nhạc lớn nhất Liên Xô thời bấy giờ như Oistrakh, Rostropovich, Sviatoslav Richter, Emil Gilels, Leonid Kogan, Daniil Shafran. Bên cạnh Mravinsky, một số nhạc trưởng Liên Xô khác cũng thường xuyên cộng tác với dàn nhạc như Kirill Kondrashin, Evgeny Svetlanov hay Gennady Rozhdestvensky. Chính Rozhdestvensky đã dẫn dắt dàn nhạc biểu diễn tại Promenade Concert, London vào năm 1971.
Sự gắn bó giữa Mravinsky và Leningrad Philharmonic diễn ra trong 50 năm, điều hiếm có trong thế giới nhạc cổ điển (một ví dụ hiếm hoi khác là Willem Mengelberg với Concertgebouw Orchestra). Mọi người đều tán đồng về chất lượng nghệ thuật đỉnh cao của dàn nhạc, nơi hội tụ những nhạc công xuất sắc nhất của Liên Xô. Năm 1984, họ cùng nhau thực hiện chuyến lưu diễn cuối cùng của Mravinsky, tới Tây Đức. Ngày 6/3/1987, Mravinsky thực hiện chương trình hoà nhạc cuối cùng của mình cùng Leningrad Philharmonic với bản Giao hưởng số 8 “Bỏ dở” của Franz Schubert và Giao hưởng số 4 của Johannes Brahms. Ông qua đời sau một trận ốm kéo dài vào năm 1988.
Với sự đề nghị của chính dàn nhạc, Yuri Temirkanov đã được lựa chọn làm nhạc trưởng tiếp theo của Leningrad Philharmonic. Với sự kiện Liên Xô tan rã, dàn nhạc đã lâm vào một giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, bất chấp tình hình phức tạp lúc đó, Leningrad Philharmonic vẫn có thể bảo toàn và duy trì được chất lượng nghệ thuật xuất sắc của mình. Dàn nhạc vẫn rất nổi tiếng với các chương trình hoà nhạc các tác phẩm của những nhà soạn nhạc Nga như Tchaikovsky, Rachmaninov hay Shostakovich. Năm 1990, Temirkanov và dàn nhạc đã thực hiện một chương trình hoà nhạc đặc biệt kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Tchaikovsky với các vị khách mời Itzhak Perlman, Yo-Yo Ma, Jessie Norman và Boris Berezovsky. Năm 1991, dàn nhạc được đổi tên thành Saint Petersburg Philharmonic. Năm 2005, Leningrad Philharmonic được mời diễn trong buổi mở màn mùa diễn 2005-2006 của Carnegie Hall. Năm 2006, 10 tạp chí âm nhạc châu Âu bỏ phiếu xếp hạng 10 dàn nhạc xuất sắc nhất châu Âu, Saint Petersburg Philharmonic được xếp ở vị trí thứ tám. Còn năm 2008, tạp chí Gramophone xếp hạng Saint Petersburg Philharmonic thứ 16 trong số những dàn nhạc xuất sắc nhất trên thế giới. Còn Gregor Tassie đã nhận xét trên Seenandheard-international.com vào năm 2019: “Bất kể điều gì đã xảy ra ở Nga trong ba mươi năm qua, dàn nhạc này vẫn luôn nằm trong danh sách xếp hạng cao nhất”.
Ngọc Tú (nhaccodien.info)







