“Vai trò của nhạc trưởng là trở thành người diễn giải, nhiệm vụ của họ là làm rõ những gì nhà soạn nhạc đã sáng tác… Với tư cách nhạc trưởng, tôi không có quyền thay đổi bản gốc.” – Wolfgang Sawallisch

Wolfgang Sawallisch là một trong những nhạc trưởng cuối cùng của trường phái Đức “cũ” và hội tụ những gì tinh tuý nhất của định nghĩa này: đó là sự am hiểu âm nhạc, nắm rõ từng nốt nhạc trong mọi tác phẩm mà mình chỉ huy (chủ yếu là thuộc lòng), đồng thời biết cách đào tạo, phát triển và dẫn dắt dàn nhạc. Ông không hề khoa trương trên bục chỉ huy, tiết kiệm động tác, tập trung vào sự rõ ràng của nhịp điệu và cấu trúc và tuân thủ tổng phổ một cách nghiêm ngặt. Được coi là bảo thủ, đôi khi là nhàm chán, vì danh mục biểu diễn của ông chủ yếu xoay quanh những tác phẩm kinh điển, từ Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart cho đến Robert Schumann, Richard Wagner hay Anton Bruckner và Richard Strauss nhưng hầu hết những lần xuất hiện của Sawallisch lại hoàn toàn trái ngược, chúng không hề phô trương, nhưng luôn sâu sắc và hấp dẫn. Song song với sự nghiệp chỉ huy, Sawallisch còn được biết đến như một nghệ sĩ piano tài năng, thường xuyên đệm đàn cho các danh ca như Elisabeth Schwarzkopf, Dietrich Fischer-Dieskau hay Hermann Prey trong các buổi biểu diễn và thu âm lied. Giống như nhiều nhạc trưởng danh tiếng ở châu Âu thời điểm đó, Sawallisch bắt đầu sự nghiệp nhạc trưởng tại nhà hát opera và sau đó mới đến các dàn nhạc giao hưởng. Dù tài năng của ông được ghi nhận từ rất sớm với việc là nhạc trưởng trẻ nhất từng chỉ huy Berlin Philharmonic lúc 30 tuổi và xuất hiện tại liên hoan Bayreuth khi mới 34 tuổi, nhưng thành tựu rực rỡ nhất của Sawallisch lại đến khá muộn màng. Năm 1993, Sawallisch bắt đầu đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra, và năm 2006, trong một cuộc phỏng vấn, ông cho biết: “Mười năm qua, với Philadelphia Orchestra, thực sự là những năm tháng đỉnh cao trong sự nghiệp âm nhạc giao hưởng của tôi”. Và đó cũng là cái kết trọn vẹn cho sự nghiệp của một trong những nhạc trưởng tiêu biểu cuối cùng của truyền thống Đức “cũ” – các nghệ sĩ đặt sự trung thành với tác phẩm và tinh thần phục vụ âm nhạc lên trên mọi phô trương cá nhân.

Wolfgang Sawallisch sinh ngày 26/8/1923 tại Munich, là con thứ hai của ông Wilhelm và bà Maria. Cha cậu là giám đốc công ty bảo hiểm Hamburg-Bremer-Feuerversicherung tại Munich. Năm tuổi, trong một bữa tiệc gia đình, Wolfgang lần đầu tiên tiếp xúc với piano và ngay lập tức tỏ ra đam mê nhạc cụ này. Cậu được cha mẹ cho theo học piano và mơ ước trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp. Tuy nhiên, năm lên 10 tuổi, Wolfgang tham dự buổi biểu diễn vở opera Hänsel und Gretel (Engelbert Humperdinck) tại Nhà hát Quốc gia Munich. Cậu đã bị tác phẩm mê hoặc và quyết định muốn trở thành nhạc trưởng để có thể tạo ra những âm thanh tuyệt vời như vậy. Wolfgang được gia đình cho học riêng các lớp về đối âm, hoà thanh, sáng tác và chỉ huy dàn nhạc. Năm 14 tuổi, Wolfgang chơi nhạc trên đài phát thanh địa phương và gia nhập một dàn nhạc trẻ. Chính tại đây, cậu đã gặp Mechthild Schmid, một cô gái có giọng hát tuyệt vời và lớn hơn Wolfgang hai tuổi. Vào năm 1952, hai người kết hôn. Mechthild đã từ bỏ sự nghiệp của một ca sĩ để toàn tâm toàn ý ủng hộ cho sự nghiệp của chồng mình. Họ không có con chung, Sawallisch nhận con trai riêng của Mechthild làm con nuôi. Họ chung sống hạnh phúc với nhau trong 46 năm, cho đến khi Mechthild qua đời vì ung thư tuyến giáp vào năm 1998.

Trong thời gian học nhạc chuyên nghiệp tại Munich Hochschule für Musik, Sawallisch từng được chứng kiến Richard Strauss dàn dựng vở opera Così fan tutte (Mozart) và vô cùng ấn tượng trước cách mà nhà soạn nhạc tự mình đệm piano, hướng dẫn cho các ca sĩ hát. Những nhạc trưởng khác cũng để lại dấu ấn mạnh mẽ cho Sawallisch là Hans Knappertsbusch và đặc biệt là Wilhelm Furtwängler. Anh thường xuyên lên Berlin để theo dõi cách mà Furtwängler luyện tập cùng Berlin Philharmonic. Việc học nhạc của Sawallisch bị gián đoạn vì Thế chiến thứ hai. Chàng trai trẻ phải nhập ngũ vào năm 1942. Sau khoá huấn luyện cơ bản, anh được hoãn ra mặt trận khi được đưa đến biểu diễn trên đài phát thanh để nâng cao tinh thần cho binh lính. Khi trở lại, toàn bộ đơn vị của Sawallisch trước đó đã bị điều đến mặt trận Stalingrad và gần như hi sinh toàn bộ. Anh trở thành điện báo viên vô tuyến trong một sư đoàn xe tăng, được điều tới Pháp và sau đó là Ý, nơi anh bị quân Anh giam giữ sáu tháng trong một trại tù binh khi chiến tranh kết thúc. Trong thời gian này, Sawallisch đã sáng tác hai bản tứ tấu dây. Sau khi ra tù, Sawallisch tiếp tục theo học tại Munich Hochschule für Musik với Joseph Haas và tốt nghiệp năm 1946. Sau đó, Sawallisch tiếp tục trau dồi kỹ năng chỉ huy dàn nhạc của mình với Hans Rosbaud và Igor Markevitch. Năm 1947, anh có được công việc đầu tiên của mình khi trở thành người hướng dẫn các ca sĩ opera trong các buổi luyện tập tại Stadttheater Augsburg. Đó là một khởi đầu quen thuộc cho nhiều nhạc trưởng Đức-Áo. Ta có thể thấy hình bóng của Otto Klemperer, Fritz Reiner hay Karl Böhm trong sự phát triển ban đầu của Sawallisch. Công việc này đã đem lại nhiều kinh nghiệm thực tế trong mọi khía cạnh opera, tạo dựng một nền tảng vững chắc cho sự nghiệp chỉ huy của Sawallisch sau này. Năm 1950, Sawallisch ra mắt với tư cách nhạc trưởng, với chính Hänsel und Gretel, tác phẩm đã khiến ngọn lửa đam mê chỉ huy dàn nhạc của anh cháy bừng lên hơn 20 năm về trước. Là một nghệ sĩ piano, anh cũng gặt hái được thành công, giành giải nhất hạng mục song tấu tại Cuộc thi Quốc tế Geneva năm 1949 cùng với nghệ sĩ violin Gerhard Seitz.

Năm 1953, Sawallisch trở nên nổi tiếng trên toàn nước Đức khi trở thành nhạc trưởng trẻ tuổi nhất từng chỉ huy Berlin Philharmonic ở tuổi 30. Cùng năm đó, ông được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc của nhà hát opera ở Aachen, nhạc trưởng trẻ nhất cả nước nắm giữ vị trí này. Sawallisch cũng thu hút được sự chú ý của Walter Legge, nhà sáng lập Philharmonia Orchestra. Ông được mời đến Anh để cộng tác cùng dàn nhạc vào năm 1957. Những bản thu âm của Sawallisch tại đây mang tính bước ngoặt, đưa tên tuổi ông lên một tầm cao mới và trở thành một trong những nhạc trưởng trẻ tuổi được chào đón nhất châu Âu lúc bấy giờ. Nhận thấy sự hiểu biết sâu sắc của Sawallisch về âm nhạc của Richard Strauss, mà chính Sawallisch từng cho biết: “Âm nhạc của ông ấy chính là nền giáo dục của tôi”, Legge đã đề nghị ông thực hiện hai bản thu âm. Đầu tiên là hai concerto horn của nhà soạn nhạc với nghệ sĩ horn nổi tiếng nhất lúc bấy giờ Dennis Brain, người chỉ ít lâu sau đó đã qua đời bi thảm trong một tai nạn xe hơi. Thứ hai là vở opera Capriccio với dàn diễn viên thượng thặng Schwarzkopf, Fischer-Dieskau, Nicolai Gedda và Christa Ludwig. Bản thân Sawallisch cũng tham gia hát trong vai người hầu. Đây đều được coi là những đĩa nhạc hay nhất về âm nhạc của Strauss. Cũng trong năm này, ông lần đầu tiên thể hiện mình là một nghệ sĩ piano xuất sắc trong các tác phẩm lied khi đệm cho Schwarzkopf, một sự kết hợp kéo dài trong rất nhiều năm. Năm 1957 là thời điểm may mắn trong sự nghiệp của Sawallisch. Một ông bầu đầy quyền lực khác trong nền âm nhạc cổ điển cũng rất quan tâm đến tài năng của ông. Đó là Wieland Wagner, giám đốc của liên hoan Bayreuth. Ngày 23/7/1957, chưa đầy 35 tuổi, Sawallisch trở thành nhạc trưởng trẻ tuổi nhất từng chỉ huy tại đây khi biểu diễn Tristan und Isolde. Là một trong những khán giả, Knappertsbusch, thần tượng thuở nhỏ của Sawallisch đã thốt lên: “Chàng trai trẻ này thật tuyệt vời!”. Sawallisch trở thành khách mời thường xuyên tại Bayreuth cho đến khi mâu thuẫn với Wieland xảy ra vào năm 1963 đã chấm dứt mối quan hệ của họ.

Năm 1958, Sawallisch rời Aachen để nhận một vị trí tương tự tại Wiesbaden, và hai năm sau chuyển đến Cologne, nơi ông ở lại cho đến năm 1963. Danh tiếng của ông với tư cách nhạc trưởng ngày càng nổi bật. Tuy nhiên, Sawallisch lại từ chối lời mời cộng tác với Vienna State Opera và Metropolitan Opera, với lý do chưa sẵn sàng. Điều này khiến ông làm phật lòng hai trong số những nhân vật danh tiếng nhất bấy giờ là Herbert von Karajan (lúc này là tổng giám đốc của Vienna State Opera) và Rudolf Bing (tổng giám đốc Metropolitan Opera). Sau này, Sawallisch chỉ có hai lần chỉ huy tại Vienna State Opera và chưa từng xuất hiện tại Metropolitan Opera. Ông cũng chỉ quay trở lại làm việc cùng Berlin Philharmonic sau khi Karajan qua đời. Thay vào đó, Sawallisch trở thành nhạc trưởng chính tại Vienna Symphony Orchestra (1960-1970), Hamburg Philharmonic (1961-1973) và sau đó là Orchestre de la Suisse Romande (1970-1980). Năm 1971, một cột mốc mới trong sự nghiệp đã đến với Sawallisch. Ông được bổ nhiệm làm tổng giám đốc âm nhạc tại Bayerische Staatsoper tại quê nhà. Công việc này kéo dài đến năm 1992 với tất cả 1.156 buổi biểu diễn, bao gồm toàn bộ các vở opera của Wagner và Richard Strauss (thật đáng ngạc nhiên, ngoại trừ Salome), thu hút được rất nhiều giọng ca hàng đầu thế giới đến với nhà hát. Bên cạnh đó, ông vẫn tiếp tục duy trì sự nghiệp của một nghệ sĩ piano, đệm đàn không chỉ cho các ca sĩ mà còn với cả các nghệ sĩ chơi nhạc cụ trong nhiều tác phẩm thính phòng. Khi sự nghiệp của ông ngày càng phát triển thì những chê bai về tính bảo thủ của ông ngày một gia tăng. Sawallisch phản đối xu hướng dàn dựng sân khấu đương đại ngày càng mang tính diễn giải và gu thẩm mỹ của ông về âm nhạc thế kỷ 20 dường như cũng chỉ giới hạn ở một số nhà soạn nhạc Đức nhất định như Carl Orff, Paul Hindemith hay Hans Werner Henze. Những lời chỉ trích càng trở nên mạnh mẽ hơn trong thập niên 1980 khi nhà quản lý August Everding được bổ nhiệm làm tổng giám đốc tại tất cả các nhà hát ở Munich và chức danh của Sawallisch được điều chỉnh thành giám đốc opera. Sau đó là một thập kỷ tranh cãi gay gắt, dẫn đến việc Sawallisch chia tay nhà hát vào năm 1992 và khẳng định sẽ ngừng diễn opera trên sân khấu trong một khoảng thời gian rất dài, ngoại trừ vở Die Entführung aus dem Serail (Mozart) đã được lên kế hoạch từ trước với La Scala vào ngày 17/6/1994. Tuy nhiên, ông vẫn duy trì việc chỉ huy các tác phẩm opera dưới hình thức hoà nhạc.

Sawallisch lần đầu tiên chỉ huy Philadelphia Orchestra vào năm 1966 theo lời mời của giám đốc âm nhạc lúc bấy giờ là Eugene Ormandy. Thậm chí Ormandy từng ngỏ ý muốn Sawallisch là người thay thế mình nhưng ông đã từ chối. Thật bất ngờ khi vào năm 1993, Sawallisch thay thế Riccardo Muti, trở thành giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra. Một người bảo thủ, ở độ tuổi 70 kế nhiệm một nhạc trưởng trẻ tuổi và được đánh giá là đầy năng động. Nhiều người tin rằng đây chỉ là một sự bổ nhiệm tạm thời cho đến khi tìm được người thích hợp hơn. Tệ hơn nữa, người ta lo ngại rằng sự xuất hiện của ông sẽ báo hiệu một kỷ nguyên trung thành với trường phái Đức-Áo và bỏ qua các nhà soạn nhạc người Mỹ. Hơn nữa, một số người trong cộng đồng Do Thái bày tỏ sự không hài lòng về việc Sawallisch từng phục vụ trong quân đội Đức trước đây. Trong một cử chỉ ngoại giao ấn tượng, Sawallisch đã bày tỏ rõ sự kinh hoàng của mình trước những tội ác của chế độ Đức Quốc xã. Tiếp theo đó, ông dành sự ưu tiên đặc biệt trong mùa diễn đầu tiên cho nhiều tác phẩm của các nhà soạn nhạc Do Thái bị giết trong thảm họa Holocaust.

Sự hợp tác giữa Sawallisch và Philadelphia Orchestra đã mang lại bất ngờ rất lớn cho giới nhạc cổ điển. Người đàn ông bị coi là bảo thủ ở Munich đã có một bước đi quá cấp tiến tại đây. Ông đã nỗ lực mở rộng sự hiểu biết của mình về các nhà soạn nhạc người Mĩ. Cùng với đó, Sawallisch cam kết việc đặt hàng và biểu diễn các tác phẩm âm nhạc đương đại Mỹ với ít nhất 15 buổi ra mắt đầu tiên trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có những tên tuổi còn rất trẻ như Aaron Jay Kernis hay Jennifer Higdon. Thậm chí trong mùa diễn 1999-2000, ông đã dành toàn bộ cho các tác phẩm được sáng tác trong thế kỷ 20. Sawallisch cũng nhanh chóng tiếp thu những ý tưởng mới, phát sóng các buổi hoà nhạc trực tuyến ngay từ những ngày đầu của internet. Một sự kiện xảy ra vào tháng 2/1994 có lẽ đã góp phần lớn nhất vào việc giúp Sawallisch chiếm được cảm tình của khán giả Philadelphia. Một cơn bão tuyết mạnh đã khiến phần lớn nhạc công, thành viên dàn hợp xướng và nhiều khán giả không đến được phòng hoà nhạc. Chương trình là các trích đoạn trong opera của Wagner. Chỉ có các ca sĩ khách mời, trú tại khách sạn gần đó là đến đông đủ. Đứng trước nguy cơ mọi thứ bị huỷ bỏ, Sawallisch đã quyết định mở cửa miễn phí, đón tiếp bất cứ ai có thể đến phòng hoà nhạc. Ông ngồi vào piano, đệm cho các ca sĩ hát trong suốt chương trình, bao gồm màn I (Die Walküre) và một số trích đoạn trong màn II của Tannhäuser. Đêm nhạc diễn ra một cách hoàn hảo và được phát hành dưới định dạng CD với tên gọi Winterstürme (Bão mùa đông). Rõ ràng, thành công này đến từ kinh nghiệm lâu năm của Sawallisch đối với các vở opera và khả năng chơi piano tuyệt vời của ông.

Ngày 24/12/1998, Sawallisch đã mất đi người vợ yêu quý Mechthild sau 46 năm chung sống. Đó là một cú sốc nặng đối với ông. Trong một thời gian dài sau đó, Sawallisch nhiều lần suy sụp trong các buổi luyện tập. Kimberly Fisher, bè trưởng bè violin hai của Philadelphia Orchestra cho biết: “Ngay sau khi vợ ông mất… ông thường xúc động mạnh trên bục chỉ huy. Dù rất đau lòng khi chứng kiến điều này, tôi vẫn cảm thấy vinh dự vì mình là một phần trong đó. Tất cả chúng tôi đều nhận ra rằng ông cũng chỉ là một con người. Ông là một phần của gia đình chúng tôi. Hãy đồng hành cùng ông. Hãy quan tâm đến ông. Hãy chơi nhạc vì ông”. Và Sawallisch đã biết cách biến nỗi đau đó thành những màn trình diễn đầy xúc động mà Tod und Verklärung (Richard Strauss) là một ví dụ điển hình. Khi đề cập đến việc này, Sawallisch trả lời ngắn gọn: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy mối quan hệ với âm nhạc mật thiết đến vậy”. Thật sự, Sawallisch đã trải qua thời kỳ phục hưng trong những năm tháng dẫn dắt Philadelphia Orchestra, tận hưởng sự tự do về nghệ thuật, khác xa với những tranh chấp mệt mỏi tại Munich. Ông đã dẫn dắt dàn nhạc trong một thập kỷ với rất nhiều thành công, cả về mặt âm nhạc lẫn tài chính. Trong suốt 10 năm tại vị, ông đã thay thế hơn một phần ba số nhạc công của dàn nhạc, nhiều hơn bất kỳ nhạc trưởng nào kể từ Leopold Stokowski. Roberto Díaz, bè trưởng bè viola cho biết: “Thông thường, nhạc trưởng và dàn nhạc sẽ đi theo những con đường riêng. Chúng tôi thì ngược lại. Tình cảm của chúng tôi chỉ càng thêm sâu đậm trong năm năm cuối”. Năm 2000, Sawallisch cùng dàn nhạc đi biểu diễn vòng quanh thế giới nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập. Năm 2003, vì điều kiện sức khoẻ, chủ yếu là căn bệnh huyết áp thấp, Sawallisch từ bỏ cương vị giám đốc dàn nhạc sau 10 năm cộng tác. Ông được Philadelphia Orchestra trao tặng danh hiệu Nhạc trưởng danh dự. Sawallisch vẫn thỉnh thoảng quay trở lại bục chỉ huy trong vài năm sau đó, chủ yếu với Philadelphia Orchestra và NHK Symphony Orchestra, nơi ông cũng là Nhạc trưởng danh dự. Kể cả khi ở tuổi ngoài 80, tài năng của Sawallisch vẫn chinh phục hoàn toàn khán giả và giới phê bình, Anthony Tommasini đã khen ngợi trên New York Times về màn trình diễn của ông vào tháng 1/2004 tại Carnegie Hall: “Nhạc trưởng Wolfgang Sawallisch, 80 tuổi, người đang phải chịu đựng những vấn đề sức khỏe mạn tính, dường như đã thách thức thời gian vào tối thứ Ba với màn trình diễn phi thường bản Giao hưởng số 5 giọng Si giáng trưởng dài 80 phút đầy thách thức của Bruckner. Sawallisch dường như đang ở đỉnh cao nghệ thuật, mang đến cách diễn giải rực rỡ và sâu sắc về một tác phẩm khó nắm bắt và phức tạp… Ngồi trên chiếc ghế cao giúp giữ thẳng lưng, Sawallisch trông uy nghiêm hơn bao giờ hết, chỉ huy với những cử chỉ tao nhã, tiết kiệm và toát lên vẻ điềm tĩnh đầy quyền lực. Dường như ông không chỉ biểu diễn bản giao hưởng mà còn đang hóa thân vào Bruckner”. Vào ngày 27/8/2006, Sawallisch chính thức nghỉ hưu: “Điều này có thể xảy ra mà không báo trước rằng huyết áp của tôi quá thấp. Sự bất ổn này khiến tôi buộc phải kết thúc sự nghiệp của mình sau 57 năm chỉ huy hoà nhạc và opera”.

Sawallisch dành những năm tháng cuối đời tại một điền trang ở Grassau, thuộc dãy núi Alps, Bavaria. Ông không hoàn toàn từ bỏ âm nhạc. Sawallisch quay lại bên piano, luyện tập hàng ngày với tình yêu đầu tiên của mình. Ông cũng thành lập Quỹ Sawallisch, xây dựng một ngôi trường để hỗ trợ cho trẻ em học nhạc tại Bavaria. Trong lần trả lời phỏng vấn với Philadelphia Inquirer vào năm 2006, Sawallisch cho biết: “Trước đây, tôi không bao giờ cảm nhận được mùa xuân hay mùa thu ở nơi này, bởi vì tôi luôn ở ngoài Grassau. Giờ đây, tôi sống như một người bình thường”. Ông qua đời tại nhà riêng vào ngày 22/2/2013 ở tuổi 89.

Sawallisch, luôn ăn mặc chỉnh tề và điềm đạm trong cách cư xử, không cần đến đội ngũ quản lý và thư ký đông đảo thường đi kèm như nhiều nhạc trưởng hiện đại. Ông trả lời điện thoại một cách lịch sự và hồi đáp thư từ trang trọng và hiệu quả. Cá tính của Sawallisch quyện một cách tuyệt vời vào âm nhạc mà ông chỉ huy. Theo năm tháng, Sawallisch khẳng định mình là một học giả lỗi lạc về âm nhạc truyền thống Đức-Áo, nổi bật là Schumann, Wagner, Bruckner và Richard Strauss. Mặc dù được kính trọng rất mực, Sawallisch lịch lãm và dễ mến không hề cố gắng tạo dựng danh tiếng. Schwarzkopf đã nhận xét về ông: “Ông ấy chưa bao giờ tự biến mình thành ngôi sao. Ông ấy muốn tạo ra âm nhạc… một cách tự do… Đó là một cảm giác tuyệt vời. Cứ như thể bạn đang ở trong không gian riêng tư vậy”. Luôn khiêm nhường, ông tránh xa ánh đèn sân khấu và khuyến khích các đồng nghiệp trẻ hơn đến tìm lời khuyên. Sawallisch quan niệm âm nhạc là một trong những phần quan trọng nhất đối với cuộc đời con người: “Tôi cảm thấy âm nhạc nói chung có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với tất cả chúng ta, và chúng ta phải nỗ lực để mọi người hiểu được âm nhạc là gì. Đây không phải là vấn đề kinh tế hay chính trị; đây là vấn đề xã hội, một câu hỏi xã hội. Tôi muốn nói rằng nhờ âm nhạc mà mọi người xích lại gần nhau hơn. Mọi người hiểu nhau hơn, không phân biệt chủng tộc, không khác biệt, và tôi hoàn toàn chắc chắn rằng âm nhạc là loại hình nghệ thuật duy nhất có thể làm được điều đó”. Và ông đã cống hiến trọn vẹn và hết mình cho niềm tin đó như David Kim, concertmaster của Philadelphia Orchestra thuật lại một câu chuyện trong chuyến lưu diễn ở Ames, Iowa. Trước buổi biểu diễn, Kim lưu ý Sawallisch và các nhạc công khác cố gắng giữ sức một chút để dành năng lượng cho buổi diễn tiếp theo ở Chicago. Kim kể: “Tôi nhớ ông nhìn tôi với một ánh mắt nghiêm nghị và nói: “Chúng ta phải cống hiến 100% ở mọi nơi, mỗi lần bước lên sân khấu. Theo cách đó, bậc thầy Sawallisch đã sống cả cuộc đời mình”.

Cobeo