Thông tin chung
Tác giả: Richard Strauss.
Tác phẩm: Also sprach Zarathustra, Op. 30
Thời gian sáng tác: Tháng 2-8/1896.
Công diễn lần đầu: Ngày 27/11/1896 tại Museum Society Concert, Frankfurt với chính tác giả chỉ huy Frankfurt City Orchestra.
Độ dài: Khoảng 36 phút.
Tác phẩm gồm 9 phần:
1 – “Einleitung, oder Sonnenaufgang” (Giới thiệu hoặc Mặt trời mọc)
2 – “Von den Hinterweltlern” (Thế giới lý tưởng)
3 – “Von der großen Sehnsucht” (Khao khát vĩ đại)
4 – “Von den Freuden und Leidenschaften” (Những niềm vui và đam mê)
5 – “Das Grablied” (Bài ca của ngôi mộ)
6 – “Von der Wissenschaft” (Khoa học và học tập)
7 – “Der Genesende” (Sự hồi phục)
8 – “Das Tanzlied” (Bài ca khiêu vũ)
9 – “Nachtwandlerlied” (Bài hát của người lang thang trong đêm)
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 3 flute (flute 3 kiêm piccolo 2), 3 oboe, English horn, 3 clarinet, bass clarinet, 3 bassoon, contrabassoon, 6 horn, 4 trumpet, 3 trombone, 2 tuba, timpani, bass drum, triangle, cymbals, glockenspiel, bell, organ, 2 harp, 16 violin 1, 16 violin 2, 12 viola, 12 cello và 8 double bass (dây thấp vặn xuống tới Đô).
Hoàn cảnh sáng tác:
Also sprach Zarathustra (Zarathustra đã nói như vậy) là một tiểu thuyết về triết học được Friedrich Nietzsche xuất bản trong các năm 1883 và 1885. Trong tác phẩm này, nhà triết học nói bằng một câu chuyện bằng văn xuôi (trái ngược với phong cách chính thống hóa của các luận thuyết triết học truyền thống) qua giọng nói của Zarathustra, một sự chuyển thể huyền ảo của nhà tiên tri Ba Tư Zoroaster, người đã dành nhiều năm ngồi thiền trên đỉnh núi và sau đó chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về thế giới. Hầu hết các cụm từ phổ biến được kết hợp với Nietzsche – “Quy hồi vĩnh cửu”, “Ý chí quyền năng”, “Siêu nhân”… – xuất hiện như những dấu mốc quan trọng trong tác phẩm này. Những ý tưởng của Nietzsche đã đi vào trọng tâm của sự tồn tại và khát vọng của con người, mà ông coi đó là một quá trình bất tận của sự tự quyết định và tự tồn tại, qua đó có nhiều thành tựu được báo trước của nền văn minh – đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật – chỉ đơn thuần là sự phân tâm dễ chịu khỏi thực tế tiềm ẩn của nhân loại. Nietzsche rất yêu thích tác phẩm này. Trong cuốn tự truyện của mình, ông viết: “Với Zarathustra, tôi đã mang đến cho nhân loại món quà tuyệt vời nhất từng được tạo ra cho đến nay”.
Khi Strauss tiếp xúc với tác phẩm này của Nietzsche, ông đã được truyền cảm hứng để tạo một diện mạo khác cho câu chuyện ngụ ngôn triết học của Nietzsche bằng âm nhạc. Mặc dù sự lựa chọn chủ đề có vẻ kỳ quặc, nhưng chính Nietzsche, người được đào tạo bài bản về âm nhạc, đã tạo ra mối liên hệ giữa tác phẩm của mình và âm nhạc. “Zarathustra này thực sự thuộc về đâu”? Nietzsche từng được hỏi như vậy và ông trả lời: “Tôi nghĩ nằm trong các bản giao hưởng”. Gustav Mahler và Frederick Delius đã từng đưa những câu chữ của Nietzsche vào tác phẩm của mình, cụ thể là bản Giao hưởng số 3 (Mahler, 1896) và A mass of life (Delius, 1905). Strauss, vào thời điểm này đã được khẳng định là một nhà soạn nhạc xuất sắc đã tự đặt cho mình thách thức lớn hơn nữa khi tiếp cận Nietzsche thuần túy bằng nhạc cụ. Ban đầu, nhà soạn nhạc đã đặt một tiêu đề khá táo bạo cho bản thơ giao hưởng của mình “Bản giao hưởng lạc quan của thế kỷ 19, dành tặng thế kỷ 20” nhưng sau đó đã thay thế nó bằng một cái tên đơn giản hơn “Tự do sau Nietzsche” trước khi mang đi xuất bản.
Strauss sáng tác tác phẩm trong khoảng thời gian từ ngày 4/2/1896 đến 24/8/1896. Trước buổi công diễn ra mắt tại Frankfurt, ông cung cấp một chương trình ngắn gọn về bản thơ giao hưởng của mình: “Phần 1: Mặt trời mọc. Con người cảm nhận được sức mạnh của Chúa. Andante religioso. Nhưng con người vẫn khao khát. Anh ta lao vào đam mê (phần 2) và không tìm thấy sự bình yên. Anh ta hướng về khoa học, và cố gắng giải quyết vấn đề của cuộc sống một cách vô ích trong một fugue (phần 3). Sau đó những điệu khiêu vũ êm ái vang lên và anh ta trở thành một cá nhân tách biệt và linh hồn của anh bay lên trong khi thế giới chìm xuống rất xa bên dưới anh ấy”. Strauss ban đầu từ chối bất kỳ mối liên hệ nào giữa tác phẩm của ông và Nietzsche ngoài việc được truyền cảm hứng từ hình ảnh thơ mộng của cuốn sách và đặc biệt là các tiêu đề đầy sức gợi cảm của nó, 8 trên tổng số 9 phần trong Also sprach Zarathustra của Strauss có tên gọi dựa trên các tiêu đề này. Trong buổi biểu diễn 3 ngày sau đó ở Berlin, Strauss cung cấp một tờ chương trình cho biết ý định của mình: “Truyền tải bằng âm nhạc một ý tưởng về sự tiến hóa của loài người từ nguồn gốc của nó, thông qua các giai đoạn phát triển khác nhau, tôn giáo cũng như khoa học, theo như ý tưởng của Nietzsche về Siêu nhân”. Strauss cũng viết cho người bạn của mình, tiểu thuyết gia người Pháp Romain Rolland: “Điểm khởi đầu, cung cấp một hình thức biểu đạt và sự phát triển thuần túy về mặt âm nhạc của cảm xúc”.
Phân tích
Also sprach Zarathustra mở đầu với một trong những cảnh mặt trời mọc ngoạn mục và ấn tượng nhất lịch sử nhạc cổ điển. Đạo diễn Stanley Kubrick hẳn đã không sai khi đưa trích đoạn này vào trong bộ phim nổi tiếng 2001: A Space Odyssey của mình. Trong nốt C trầm nhất mà dàn nhạc có thể cung cấp (contrabassoon, double bass được điều chỉnh dây và organ trên những tiếng cuộn lên của timpani), Strauss đã viết lên motif 3 nốt với sự đơn giản nhất gần như không thể nghiên cứu gì được: Đô-Son-Đô, được tăng lên một quãng tám để diễn tả tự nhiên hay “câu đố của thế giới”, motif này được lặp lại xuyên suốt tác phẩm như một biểu tượng của sự thờ ơ và bí ẩn của thiên nhiên. Khi mặt trời mọc, nhanh chóng và rực rỡ (ồn ào như bình minh trong Götterdämmerung của Wagner), Strauss bắt đầu công việc cô đọng tác phẩm của của Nietzsche. Âm nhạc ở giọng Đô trưởng, nguyên thuỷ và đơn giản.
Sau phần mở đầu có phần hơi khoa trương, phần tiếp theo có tựa đề “Von den Hinterweltlern”. Hinterweltlern là một học thuyết của Nietzsche, gần như không thể dịch được. Trong cuốn sách của nhà triết học, chương này thảo luận về lý do mọi người khao khát đức tin tôn giáo hoặc niềm tin vào một “thế giới bên kia” lý tưởng; về cơ bản, Nietzsche nói rằng sự đau khổ và không hoàn hảo của cuộc sống khiến mọi người khao khát điều này. Âm nhạc ở giọng Si thứ. Từ những ý tưởng tối tăm, rời rạc trong âm khu thấp của dàn nhạc vang lên tiếng horn, được Strauss dãn nhãn với cụm từ “Credo in unum deum”, tiếng Latin có nghĩa là Tôi tin vào một đức Chúa. Âm thanh của horn được đáp trả bằng một giai điệu như thánh ca, trên dàn dây được Strauss chia nhỏ thành 16 bè, một kỹ thuật ông thường lặp lại trong sự nghiệp sáng tác của mình. Nó bắt đầu nhẹ nhàng, nhưng phát triển mạnh mẽ, đại diện cho sự khao khát của loài người về một sự thay thế hoàn hảo, một thiên đường của cõi tâm linh.
Phần tiếp theo, “Von der großen Sehnsucht” về cơ bản là chuyển tiếp và bắt đầu khi giai điệu thánh ca lắng xuống. Organ chơi một giai điệu xuất phát từ Magnificat và chủ đề “câu đố của thế giới” xuất hiện trở lại. Hai giọng điệu Đô trưởng và Si trưởng, rất gần về mặt khoảng cách nhưng xa xôi về mặt hoà hợp bắt đầu va chạm nhau, như một cuộc đấu tranh giữa đức tin và thiên nhiên. Âm nhạc có cường độ tăng dần với các motif hướng lên trên từ tận sâu bên trong dàn nhạc, cao trào đạt đến đỉnh điểm để hướng đến phần tiếp theo.
Phần “Von den Freuden und Leidenschaften” là một giai điệu mãnh liệt, đầy đam mê xuất hiện trong bè violin với phần đệm hỗn loạn của dàn nhạc. Điều này thể hiện những khoái cảm về mặt xác thịt, rất tự nhiên của con người, mà Nietzsche cho rằng nên được chấp nhận: “Không thể diễn tả được và không có tên gọi là thứ gây đau khổ và thích thú cho tâm hồn tôi và thậm chí là cơn đói khát của tôi”. Hai chủ đề tương phản xuất hiện, trong đó một chủ đề bay cao và rồi lao thẳng xuống mang đến một dự báo kịch tính về những cảm xúc sôi sục, bất ổn. Trong phần cuối, bè trombone chơi một giai điệu thể hiện sự thoả mãn.
Tuy nhiên, những niềm vui và niềm đam mê này nhanh chóng sụp đổ trong phần tiếp theo “Das Grablied”. Oboe hát lên một giai điệu thê lương, được đáp trả với tiếng English horn, tâm trạng càng trở nên buồn bã hơn. Những giai điệu của các phần trước được tái hiện, cho thấy Zarathustra đang thương tiếc cho tuổi trẻ đã mất của mình. Bè dây một lần nữa được chia thành nhiều bè. Tại một thời điểm, chủ đề “câu đố của thế giới” xuất hiện, như để thách thức thái độ trong cuộc đấu tranh của con người. Âm nhạc ở giọng Si thứ.
Phần “Von der Wissenschaft” bắt đầu lặng lẽ trong tiếng cello và double bass với một giai điệu ngũ cung khác lạ với ba nốt đầu đến từ chủ đề “câu đố của thế giới”, có lẽ gợi ý nhiệm vụ khoa học để hiểu thế giới tự nhiên. Bầu không khí u ám nặng nề này đột nhiên bị xua tan khi âm nhạc trở nên cao vút, vui vẻ, thường được hiểu là tiếng cười của Zarathustra. Nietzsche không tin rằng khoa học, với nhiệm vụ tìm hiểu bản chất một cách có phương pháp, có thể cung cấp kiến thức siêu hình mà ông tìm kiếm. Tuy nhiên, motif “câu đố của thế giới” đã sớm thách thức tiếng cười. Âm nhạc là một fugue đầy trí tuệ, có kết cấu tương ứng với tiêu đề. Đây là một fugue chặt chẽ, bài bản về một chủ đề có tất cả 12 nốt của thang âm – nó bắt đầu với motif 3 nốt “câu đố của thế giới” ở giọng Đô trưởng được nối tiếp là ba nốt của giọng Si thứ.
Khi fugue lên đến đỉnh điểm, âm nhạc chuyển sang phần sau “Der Genesende”, tiếp tục với chất liệu fugue trước đó được hồi sinh, nén lại và xếp chồng lên nhau thành một cấu trúc chặt chẽ (kỹ thuật stretto) cho đến khi motif “câu đố của thế giới” trở lại mạnh mẽ được chơi trên cả dàn nhạc, có vẻ như tự nhiên cuối cùng vĩ đại hơn kiến thức của con người. Một khoảng lặng tuyệt đẹp xuất hiện trên tiếng cello độc tấu. Bè kèn gỗ lắc lư, tiếng trumpet xuyên thấu, sự hỗn loạn gia tăng, năng lượng mất dần những vẫn tạo ra được sự sống động khi tiếng cello độc tấu khép lại phần này.
“Das Tanzlied” là một điệu waltz say đắm mở đầu trên violin độc tấu, gần như được nhà soạn nhạc cùng họ với ông sáng tác ra, chính xác về phong cách và tâm trạng, nhưng có phần mộc mạc hơn. Zarathustra hát cho các thiếu nữ khiêu vũ về bản chất thất thường của sự khôn ngoan và niềm đam mê của cuộc sống. Tiếng glockenspiel hoà cùng với bè dây và harp tạo thêm cảm giác vui vẻ đặc biệt trong một phần ghi nhận sự nỗ lực của con người đối với những thú vui trần thế và nhục dục. Điệu waltz có chứa motif “câu đố của thế giới” cũng như chủ đề của các phần trước đó được xuất hiện trở lại. Âm nhạc được xây dựng như một sự gợi ý rằng nhân loại nên cố gắng đạt được vui vẻ tương tự về cuộc sống và thiên nhiên.
Điệu waltz xây dựng đến một cao trào cuồng nhiệt, nhưng cuối cùng không ổn định, sụp đổ với mười hai tiếng chuông báo hiệu nửa đêm và sự chuyển tiếp sang phần cuối cùng của tác phẩm “Nachtwandlerlied” (đây cũng là đoạn trích mà Mahler sử dụng trong bản giao hưởng số 3). Về cơ bản, phần này đóng vai trò như một đoạn dài có âm lượng nhẹ dần cho câu hỏi nổi tiếng kết thúc tác phẩm: flute, violin, harp, oboe dừng lại trên một hợp âm Si trưởng, nhưng cello và double lại lặp lại một đoạn ở giọng Đô trưởng nghịch tai. Strauss giải thích rằng “Đô trưởng là Thiên nhiên, Con người; Si thứ (kết thúc tác phẩm là Si trưởng) là khát vọng siêu hình của mình”, cho thấy rằng cuối cùng Câu đố về thế giới vẫn chưa được giải đáp.
Strauss tự hào về Also sprach Zarathustra. Sau buổi tổng duyệt toàn bộ sáng tác mới của mình, ông đã viết cho vợ: “Zarathustra là vinh quang – cho đến nay là tác phẩm quan trọng nhất trong tất cả các sáng tác của anh, hoàn hảo nhất về hình thức, phong phú nhất về nội dung và cá nhân nhất về tính cách”. Các khán giả trong đêm ra mắt đã chia sẻ sự nhiệt tình của ông. Trong vòng năm tuần, tác phẩm đã được trình diễn bằng năm dàn nhạc khác nhau và nhanh chóng trở thành một trong những tác phẩm dàn nhạc phổ biến nhất của Strauss. Ngày 15/6/1899, Romain Rolland viết một bài luận đăng trên Revue de Paris, tóm tắt về bản thơ giao hưởng này của Strauss: “Strauss mong muốn mô tả các giai đoạn phát triển khác nhau mà một tinh thần tự do trải qua để đạt được Sức mạnh siêu nhân… Trong đó, con người được nhìn thấy, thoạt đầu bị sự bí ẩn của thiên nhiên nghiền nát, đang tìm kiếm một nơi nương tựa trong đức tin; sau đó, nổi dậy chống lại những ý tưởng khổ hạnh, lao vào những đam mê một cách điên cuồng; sớm muộn phiền, lo lắng, mệt mỏi đến chết đi sống lại. Anh ta cố gắng học và thành công trong việc giải thoát bản thân khỏi sự khát khao về kiến thức; cuối cùng anh ta tìm thấy sự giải thoát của mình trong tiếng cười, làm chủ thế giới, vũ điệu hạnh phúc, vũ điệu của vũ trụ, nơi chứa đựng tất cả tình cảm của con người: niềm tin tôn giáo, ham muốn không thỏa mãn, đam mê, ghê tởm và vui vẻ… Rồi điệu nhảy bay đi, lạc vào miền thanh tao. Zarathustra biến mất, nhảy múa vượt ra ngoài các thế giới. Nhưng anh ta đã không giải quyết được bí ẩn của thế giới cho những người khác: do đó, trái ngược với sự hài hoà của ánh sáng đặc trưng, được đặt ra một nốt nhạc trầm buồn của cuộc tra vấn và bản thơ giao thưởng kết thúc”.
Cobeo (nhaccodien.info) tổng hợp



