Thông tin chung

Tác giả: Gustav Mahler.
Thời gian sáng tác: Năm 1908-1909.
Công diễn lần đầu: Ngày 20/11/1911 với Bruno Walter chỉ huy tại nhà hát Tonhalle, Munich. Hai ca sĩ là Sara Cahier và William Miller.
Độ dài: Khoảng hơn 60 phút.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 6 chương:
Chương I – Das Trinklied vom Jammer der Erde (Bài ca nâng chén vì nỗi sầu muộn của trái đất) (La thứ)
Chương II – Der Einsame im Herbst (Kẻ cô độc mùa thu) (Rê thứ)
Chương III – Von der Jugend (Tuổi thanh xuân) (Si giáng trưởng)
Chương IV – Von der Schönheit (Mỹ nhân) (Son trưởng)
Chương V – Der Trunkene im Frühling (Gã say ngày xuân) (La trưởng)
Chương VI – Der Abschied (Ly biệt) (Đô thứ – Đô trưởng)
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 3 flute (flute 3 kiêm piccolo 2), 3 oboe (oboe 3 kiêm English horn), 3 clarinet, clarinet giọng Mi giáng, bass clarinet, 3 bassoon (bassoon 3 kiêm contrabassoon), 4 horn, 4 trumpet, 3 trombone, bass tuba, timpani, bass drum, cymbals, triangle, tam-tam, tambourine, glockenspiel, celesta, 2 harp, mandolin và dàn dây. Hai ca sĩ giọng tenor và alto.

Hoàn cảnh sáng tác

Không nhà soạn nhạc nào nói về cái chết một cách hùng hồn, thấm thía và thường xuyên hơn Gustav Mahler. Chủ đề này chạy xuyên suốt âm nhạc của Mahler như một dòng chảy, lúc ào ạt, lúc êm dịu, rồi lại dữ dội. Để kiểm chứng, có thể chọn bất kỳ tác phẩm nào, ở bất kỳ giai đoạn nào trong sự nghiệp của ông: từ những ca khúc đầy tuyệt vọng trong Lieder eines fahrenden Gesellen (Bài ca của người lữ hành), Giao hưởng số 1, nơi cái chết được đối xử với giọng điệu mỉa mai; đến Giao hưởng số 2, nơi cái chết là khúc dạo đầu của sự phục sinh; từ giai đoạn giữa sự nghiệp, Giao hưởng số 5 với hành khúc tang lễ; và ba tác phẩm thấm đẫm cái chết ở cuối đời: Das Lied von der Erde (Bài ca trái đất), Giao hưởng số 9 và Giao hưởng số 10 còn dang dở.

Ba tác phẩm sau cùng này đều ra đời sau năm 1907, một cột mốc kinh hoàng và u ám trong cuộc đời Mahler. Ông bị phát hiện mắc bệnh tim, cô con gái Maria qua đời vì bệnh bạch hầu và Mahler bị ép phải từ chức giám đốc Vienna Court Opera (nay là Vienna State Opera). Có lẽ, với nhà soạn nhạc lúc này, cái chết không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà nó hiện diện trước mắt Mahler. Trạng thái tinh thần yếu ớt của Mahler đã đẩy ông vào vòng xoáy bất định ngày càng gia tăng. Mahler luôn bị ám ảnh với những ảo giác bệnh hoạn và sang chấn sâu sắc. Mặc dù vậy, Mahler đã tìm cách đối mặt. Ông viết thư trao đổi với Bruno Walter, người sau này sẽ là nhạc trưởng chỉ huy ra mắt Das Lied von der Erde: “Nếu tôi muốn tìm lại chính mình, tôi phải chấp nhận những nỗi kinh hoàng của sự cô đơn. Tôi nói bằng những ẩn ý, vì anh không biết những gì đã và đang diễn ra bên trong tôi. Chắc chắn đó không phải là nỗi sợ chết mang tính bệnh hoạn như anh có thể nghĩ. Tôi đã từ lâu biết rằng mình sẽ chết… mà không cố gắng giải thích hay mô tả điều gì đó mà có lẽ chẳng có từ ngữ nào để diễn đạt, tôi chỉ đơn giản nói rằng, chỉ trong một khoảnh khắc, tôi đã mất đi mọi sự bình thản và yên ổn trong tâm trí mà tôi từng có được. Tôi đứng đối diện với hư vô, và giờ đây, ở cuối đời mình, tôi lại phải học cách đi và đứng một lần nữa”.

Ông tìm nơi ẩn náu ở một ngôi làng nhỏ thuộc dãy Alps, Áo, và nỗi tuyệt vọng ban đầu đã chuyển thành sự nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống: “Tôi nhìn mọi thứ dưới một ánh sáng mới. Tôi khát khao sống hơn bao giờ hết và thấy thói quen tồn tại ngọt ngào hơn bất cứ khi nào trước đây”. Sự chuyển biến mới mẻ này một phần được gợi cảm hứng từ tuyển tập thơ vừa xuất bản mang tên Die Chinesische Flöte (Cây sáo Trung Hoa) được Hans Bethge phỏng dịch. Tuyển tập này đã rõ ràng chạm đến tâm hồn Mahler, hòa nhịp cùng ý thức song song của ông về nỗi cay đắng của cái chết và niềm ngây ngất ngọt ngào của sự sống. Mahler dường như được tiếp thêm sinh lực từ những vần thơ của Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy và Tiền Kỳ đến mức Alma, vợ ông nhận thấy rằng chồng mình đã hoàn thành cơ bản tác phẩm chỉ trong hai tháng mùa hè và bắt đầu phối khí vào mùa đông năm 1908.

Mahler đã đưa giọng hát vào các giao hưởng số 2, 3, 4 và 8 của mình. Trong Das Lied von der Erde, ông đã đi xa hơn khi tạo ra sự kết hợp hoàn chỉnh giữa giao hưởng với một tập ca khúc. Mahler đã tạo nên một tập sáu bài hát, để qua đó tạo nên một bản giao hưởng sáu chương nhạc. Vào lúc này, Mahler lại đứng trước một lựa chọn khó khăn. Ông không muốn gọi tác phẩm mới của mình là Giao hưởng số 9. Mahler nhận thấy rằng kể Ludwig van Beethoven, tất cả các nhà soạn nhạc đều qua đời khi hoàn thành bản giao hưởng số 9 của mình: Franz Schubert và Antonín Dvořák. Anton Bruckner thì mới chỉ kịp viết ba chương đầu tiên (tuy nhiên Bruckner đã sáng tác hai bản giao hưởng không được đánh số). Do đó, ban đầu ông đã cân nhắc tựa đề “Die Flöte aus Jade” (Cây sáo ngọc), “Das Lied vom Jammer der Erde” (Bài ca về nỗi buồn của Trái đất), và thậm chí còn đặt phụ đề “Bản giao hưởng cho giọng tenor và alto cùng dàn nhạc”. Cuối cùng Das Lied von der Erde đã được lựa chọn. Bản giao hưởng-ca khúc, hai thể loại đã chiếm gần như hầu hết cuộc đời sáng tác của Mahler, đầu tiên trên thế giới đã ra đời. Một hình thức sẽ còn được nối tiếp trong những năm sau này với Alexander Zemlinsky (Lyrische Symphonie) hay Dmitri Shostakovich (Giao hưởng số 13).

Nhà nghiên cứu Mahler Deryck Cooke, người đã hoàn thành bản giao hưởng số 10 của nhà soạn nhạc đã phân tích Das Lied von der Erde như “một bản giao hưởng theo nghĩa Mahler: chương đầu xung đột; bốn chương ngắn xoay quanh ý tưởng trung tâm; chương kết phức hợp mang lại sự giải toả; toàn bộ được cấu tạo từ những motif phát triển theo lối giao hưởng, dù không theo hình thức truyền thống”. Rồi, như vô số người khác, Cooke khép lại phân tích lạnh lùng bằng sự buông xuôi hoàn toàn trước sức hút cảm xúc của âm nhạc này: “Nỗi căng thẳng khủng khiếp cuối đời của Mahler đã ép ông viết nên những giai điệu không thể diễn tả bằng lời, đầy đẹp đẽ và thống thiết… Trong Bài ca trái đất, sự ý thức đột ngột, cay đắng về cái chết cận kề đã hoà quyện với niềm say mê vẻ đẹp của thiên nhiên và sự ngây ngất trong cuộc sống, tất cả đều chỉ còn được nắm giữ trong khoảnh khắc ngắn ngủi và mong manh… Như thể vị đắng của cái chết đã làm tan rã mọi thứ vững chắc trên đời, chỉ còn lại những đường nét thanh mảnh và màu nước trong trẻo. Điều này dĩ nhiên rất phù hợp với bầu không khí Trung Hoa của lời hát… Bài ca trái đất có một kết cấu hoà âm và phối khí mới mẻ, trần trụi, tuy đôi khi đã được báo hiệu trong các tác phẩm trước đó của Mahler và phần nào xuất hiện ở hai tác phẩm sau, nhưng thực sự thuộc về tác phẩm này hơn hết, và không giống bất kỳ thứ gì khác trong âm nhạc”.

Phân tích

Chương I

Chương đầu tiên, Bài ca nâng chén vì nỗi sầu của trái đất, được viết ở giọng La thứ, liên tục quay về điệp khúc Dunkel ist das Leben, ist der Tod (Bóng tối là cuộc sống, là cái chết), mà mỗi lần xuất hiện lại được nâng lên cao hơn nửa cung. Giống như nhiều bài thơ uống rượu của Lý Bạch, bài thơ gốc Bối Ca Hành (Bài ca về nỗi buồn) là sự hoà trộn giữa sự hưng phấn say sưa và nỗi buồn sâu sắc. Phần hát của tenor rất khó, vì giọng tenor phải cố gắng vượt lên tông cao nhất trong phạm vi của mình, chống lại sức mạnh của dàn nhạc giao hưởng. Điều này tạo nên chất giọng chói tai, sắc bén, phù hợp với cách Mahler thường xuyên đẩy các nhạc cụ, kể cả thanh quản, đến giới hạn của chúng. Chương nhạc bắt đầu với một chuỗi ba nốt nhạc của horn, xuất hiện lại xuyên suốt bài hát, đặc biệt ở đoạn cao trào khi ca sĩ mô tả tiếng một con linh trưởng “vang lên trong hương thơm ngọt ngào của sự sống”. Đoạn cao trào này cũng đánh dấu lần đầu tiên trong bản giao hưởng xuất hiện ba đoạn sử dụng âm giai whole-tone (toàn cung). Điệp khúc (Bóng tối là cuộc sống, là cái chết) chiếm ưu thế, lấn át toàn bộ chương nhạc.

Schon winkt der Wein im goldnen Pokale,
Doch trinkt noch nicht, erst sing ich euch ein Lied!
Das Lied vom Kummer soll auflachend
in die Seele euch klingen. Wenn der Kummer naht,
liegen wüst die Gärten der Seele,
Welkt hin und stirbt die Freude, der Gesang.
Dunkel ist das Leben, ist der Tod.Herr dieses Hauses!
Dein Keller birgt die Fülle des goldenen Weins!
Hier, diese lange Laute nenn’ ich mein!
Die Laute schlagen und die Gläser leeren,
Das sind die Dinge, die zusammen passen.
Ein voller Becher Weins zur rechten Zeit
Ist mehr wert, als alle Reiche dieser Erde!
Dunkel is das Leben, ist der Tod.Das Firmament blaut ewig und die Erde
Wird lange fest stehen und aufblühn im Lenz.
Du aber, Mensch, wie lang lebst denn du?
Nicht hundert Jahre darfst du dich ergötzen
An all dem morschen Tande dieser Erde,Seht dort hinab!
Im Mondschein auf den Gräbern hockt
eine wildgespenstische Gestalt – Ein Aff ist’s!
Hört ihr, wie sein Heulen hinausgellt
in den süßen Duft des Lebens!
Jetzt nehm den Wein! Jetzt ist es Zeit, Genossen!
Leert eure goldnen Becher zu Grund!
Dunkel ist das Leben, ist der Tod!
Rượu sẵn trong chén ngọc đương chờ đợi
Nhưng gượm hẵng, ta muốn hát cho ngươi
Một bài ca về cái buồn rượi rượi
Cứ lởn vởn cợt cười trong tâm trí.
Khi nỗi sầu bi họa lên bên cạnh
Mảnh vườn hồn nằm cô quạnh đơn côi.
Héo hon ủ rũ. Hoan ca cũng tàn hết thôi
Cái chết và đời là tối đen thăm thẳm. Này chủ quán, Hầm ngươi toàn rượu quý
Cây đàn kia hãy mang đến cho ta
Ta gảy tịch tang, ta nốc rượu khề khà
Rượu cùng đàn giao hoan tuý luý.
Ví cả túi vàng trên thế gian lúc ý
Cũng chẳng bằng rượu rót cho đầy.
Cái chết và đời tăm tối lắm thay. Ngàn năm trời không phai màu xanh thẳm
Vạn mùa đất vẫn trơ trơ hoa nở thắm xuân
Các con giời, lũ ngươi sống được há bao lăm?
Chẳng đến trăm năm lạc thú trong nơi ấy
Cái thế giới thối thây tầm thường nhường vậy.Nhìn xuống kia, Trong nghĩa địa, dưới trăng
Có chú vượn hoang ẩn trong hình hài ma mị
Tiếng nó hú nghe sao lảnh lót thế
Hương đời thơm ngào ngạt quanh đây
Rót rượu đi, lúc này – uống cho say
Chén ngọc hãy hớp cho cạn tới đáy.
Cái chết hay đời thì cũng vậy
Chỉ một màu đen thẳm mà thôi. [YIH dịch]

Chương II

Chương này nhẹ nhàng, ít hỗn loạn hơn nhiều, dành cho alto ở giọng Rê thứ. Được ghi chú là “hơi lê thê và mệt mỏi”. Chương bắt đầu bằng tiếng dàn dây lặp đi lặp lại như tiếng sột soạt, tiếp theo là các nhạc cụ bộ hơi đơn độc. Lời ca, dựa trên phần đầu của bài Kẻ cô độc mùa thu của nhà thơ Tiền Kỳ, than thở về sự tàn phai của hoa và cái đẹp, đồng thời bày tỏ nỗi mệt mỏi và khao khát được thiếp đi. Phần phối khí trong chương này khá thưa thớt, mang phong cách âm nhạc thính phòng, với các dòng đối âm dài và độc lập. Chương nhạc bắt đầu bằng sự mệt mỏi cam chịu, dâng lên cao trào tuyệt vọng dữ dội, rồi lắng xuống trở lại, khi mọi cảm xúc và hy vọng đã cạn kiệt.

Chương III

Mahler đã chủ định đây là một bản giao hưởng. Vì vậy, đứng dưới góc độ này để phân tích, chúng ta có thể xếp ba chương tiếp theo này đóng vai trò một scherzo và là chương thứ ba của bản giao hưởng. Khúc scherzo này gồm ba phần: scherzo 1-trio-scherzo 2. Tất nhiên, nó không mang hình hài chuẩn mực của một chương nhạc thời kỳ Cổ điển hay Lãng mạn trước đó. Chương III, khúc scherzo đầu tiên, Tuổi trẻ, dành cho tenor, được viết ở giọng Si giáng trưởng, là chương nhạc mang nhiều âm sắc Á Đông nhất, tràn đầy những giai điệu ngũ cung. Chương nhạc có hình thức ba đoạn với phần thứ ba là hình thức rút gọn đáng kể của phần đầu tiên. Là chương nhạc ngắn nhất trong toàn bộ tác phẩm, qua lời thơ Lý Bạch, âm nhạc nhẹ nhàng, kỳ ảo với tiếng bassoon lặp đi lặp lại, mô phỏng những cuộc trò chuyện trong bữa tiệc. Về cuối, không khí trở nên sâu sắc và nghiêm túc hơn.

Chương IV

Chương IV Mỹ nhân, với lời hát dành cho giọng alto, dựa trên bài thơ Bài ca hái hoa sen của Lý Bạch miêu tả hình ảnh những cô gái trẻ, xinh đẹp đang hái hoa sen trên sông. Âm nhạc ở giọng Son trưởng, chủ yếu là những đường legato nhẹ nhàng, trìu mến. Âm nhạc chỉ mạnh mẽ hơn ở phía sau khi kèn đồng khắc hoạ những chàng trai đang phóng ngựa ngang qua. Mọi thứ trở nên mong manh hơn khi một đoạn nhạc dạo dài sau khi lời hát kết thúc, cô gái xinh đẹp nhất dõi theo chàng kỵ sĩ đẹp trai nhất với ánh mắt khao khát.

Chương V

Giống như chương đầu tiên, chương Gã say ngày xuân, dành cho giọng tenor ở giọng La trưởng bắt đầu bằng một chủ đề kèn horn. Tuy nhiên, về mặt tính chất, âm nhạc ở khúc scherzo này có không khí vui tươi, vô tư lự, đối lập hoàn toàn với sự bi quan ở chương I. Ta có thể thấy điều này qua lời thơ của Lý Bạch: “Nếu cuộc sống chỉ là một giấc mơ, tại sao phải làm việc và lo lắng”? Trong chương này, Mahler sử dụng rất nhiều dấu hóa, có thể thay đổi chỉ sau vài ô nhịp. Phần giữa có sự xuất hiện của violin và flute độc tấu, tượng trưng cho những con chim khác nhau mà ca sĩ đang miêu tả.

Wenn nur ein Traum das Dasein ist,
Warum denn Müh und Plag?
Ich trinke, bis ich nicht mehr kann,
Den ganzen, lieben Tag!
Und wenn ich nicht mehr trinken kann,
Weil Leib und Kehle voll,
So tauml’ ich hin vor meiner Tür
Und schlafe wundervoll!
Was hör ich beim Erwachen? Horch!
Ein Vogel singt im Baum.
Ich frag ihn, ob schon Frühling sei,
Mir ist als wie im Traum.
Der Vogel zwitschert: “Ja! Der Lenz
Ist da, sei kommen über Nacht!”
Ich seufze tief ergriffen auf
Der Vogel singt und lacht!
Ich fülle mir den Becher neu
Und leer ihn bis zum Grund
Und singe, bis der Mond erglänzt
Am schwarzen Firmament!
Und wenn ich nicht mehr singen kann,
So schlaf ich wieder ein,
Was geht denn mich der Frühling an!?
Laßt mich betrunken sein!
Nếu đời chỉ là mơ,
Sao sầu đau đến thế?
Ta rót uống cả ngày,
Uống tới khi không thể!
Khi không thể uống thêm,
Lòng dạ đã đầy cả,
Lảo đảo tới thềm nhà
Đánh giấc say thật hả!
Tỉnh giấc, lắng nghe nào!
Giữa hoa chim hót chào
Hỏi chim xuân đấy ư
Với ta như giấc mơ.
Chim ríu ran: “Xuân đây!
Trong đêm xuân đã tới”
Ta căng tai nghe ngóng
Tiếng chim hót vang lừng!
Ta rót thêm cốc đầy
Uống cạn đáy rồi hát
Cho tới khi trăng lên
Sáng soi bầu trời đêm!
Và khi không thể hát
Ta tiếp tục ngủ thôi
Với ta xuân nghĩa gì?
Mặc ta uống say nhè! [na9 dịch]

Chương VI

Chương VI, Ly biệt, là chương dài nhất trong toàn bộ tác phẩm, gần bằng cả 5 chương trước cộng lại. Lời hát được Mahler lựa chọn từ các bài thơ của Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy kết hợp với của chính ông trong những câu cuối cùng. Chương nhạc mở đầu với tiếng tam-tam và oboe, được nâng đỡ với những câu trả lời trầm sâu của dàn nhạc, tạo nên một bầu không khí u tịch và cam chịu trước khi alto cất lên những câu hát đầu tiên. Phần phối khí ở đoạn này sẽ chuyển từ dày dặn, nhiều lớp sang mỏng manh và tinh tế. Hãy chú ý đến sự hoà quyện tinh vi giữa các yếu tố âm nhạc phương Đông và phương Tây… những giai điệu ngân nga, trôi dạt, những quãng nghịch bất thường, kịch tính cao độ với sắc thái phong phú và các đoạn cao trào. Chương nhạc này rất đáng chú ý khi Mahler áp dụng thủ pháp text-painting (hoạ thanh), một kỹ thuật sáng tác âm nhạc trong đó nhà soạn nhạc dùng một số yếu tố đặc trưng để phản ánh trực tiếp ý nghĩa của lời ca. Như ở đây, Mahler dùng mandolin để miêu tả đàn lute hay mô phỏng tiếng chim hót qua kèn gỗ hay chuyển đổi liên tục giữa giọng trưởng và thứ để tạo sự tương phản. Chương nhạc được chia thành ba phần chính. Phần đầu tiên, miêu tả thiên nhiên xung quanh khi màn đêm buông xuống. Phần thứ hai, cô gái đang chờ người bạn nói lời tạm biệt cuối cùng. Một đoạn dài của dàn nhạc mở đầu phần thứ ba, miêu tả cuộc trò chuyện giữa hai người bạn và dần chìm vào im lặng. Những câu thơ cuối, kết thúc với từ ewig (mãi mãi), được hát chín lần, do chính Mahler sáng tác. Benjamin Britten, với sự ngưỡng mộ, đã nhận xét về đoạn kết phi thường này: “Nó mang vẻ đẹp của sự cô đơn và nỗi đau, của sức mạnh và tự do” và nói thêm: “Tôi không thể hiểu được nó, nó cuốn qua tôi như một cơn sóng thần”.

Mặc dù Mahler sử dụng một dàn nhạc lớn nhưng chỉ trong các chương I, IV và VI, chúng mới chơi cùng nhau. Trong nhiều đoạn, kết cấu âm thanh như một dàn nhạc thính phòng, chỉ có vài nhạc cụ hoà tấu, mong manh, nhẹ nhàng. Tại chương II, khi alto lần đầu hát, Mahler có ghi chú “nếu cần, phần alto có thể được thay thế bằng baritone”. Cho đến ngày nay, vẫn còn những tranh cãi cho việc sử dụng baritone chỉ được áp dụng trong chương II hay cho toàn bộ tác phẩm.

Leonard Bernstein, đã ca ngợi Das Lied von der Erde là “bản giao hưởng vĩ đại nhất” của Mahler. Những công việc sau đó của Mahler tại Metropolitan Opera và New York Philharmonic đã cuốn ông đi. Mahler cũng tập trung vào việc dàn dựng bản Giao hưởng số 8 mà việc công diễn nó được coi là “thành công lớn nhất trong cuộc đời của Mahler”. Những điều này dẫn đến việc ông không được chứng kiến Das Lied von der Erde ra mắt khán giả. Dường như tin tưởng vào việc không đánh số cho Das Lied von der Erde giúp ông bước qua lời nguyền về bản giao hưởng số 9. Mahler đã đánh số 9 cho bản giao hưởng sau đó của mình và bắt tay vào sáng tác bản Giao hưởng số 10. Nhưng cuối cùng, nhà soạn nhạc đã qua đời, để lại tác phẩm còn dang dở, đúng như những gì Arnold Schoenberg đã nói: “Ai muốn vượt qua nó thì phải qua đời. Dường như có điều gì đó được truyền đạt cho chúng ta trong giao hưởng số 10 mà chúng ta chưa nên biết, mà chúng ta chưa sẵn sàng. Những người đã viết giao hưởng số 9 đã ở quá gần với thế giới bên kia”.

Người bạn thân thiết của Mahler, Walter là nhạc trưởng trong buổi ra mắt Das Lied von der Erde vào ngày 20/11/1911 tại Nhà hát Tonhalle, Munich, khoảng sáu tháng sau khi nhà soạn nhạc qua đời. Sau khi khám phá những thăng trầm của thân phận con người, Mahler để lại cho người nghe cảm giác bình yên và an ủi – như cuối cùng ông hẳn đã cảm thấy khi tác phẩm hoàn thành.

Cobeo tổng hợp