Thông tin chung

Tác giả: Sergei Prokofiev.
Thời gian sáng tác: Phiên bản đầu tiên được sáng tác trong giai đoạn 1912-1913 nhưng sau đó bản thảo đã bị thiêu rụi. Năm 1923, ông viết lại tác phẩm này
Công diễn lần đầu: Phiên bản gốc được trình diễn vào ngày 5/9/1913 với tác giả chơi piano và Alexandr Aslanov chỉ huy dàn nhạc tại Pavlovsk Park, ngoại ô Saint Petersburg. Phiên bản viết lại được trình diễn vào ngày 8/5/1924 với tác giả chơi piano và Serge Koussevitzky chỉ huy dàn nhạc tại Paris.
Độ dài: Khoảng 33 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được dành để tưởng nhớ Maximilian Schmidthof, người bạn tại nhạc viện Saint Petersburg, đã tự tử vào tháng 4/1913.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Andantino – Allegretto
Chương II – Scherzo: Vivace
Chương III – Intermezzo: Allegro moderato
Chương IV – Finale: Allegro tempestoso
Thành phần dàn nhạc: Piano độc tấu, 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, cymbals, snare drum, tambourine và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Prokofiev đã được coi là người mang những luồng tư tưởng độc hại khi sáng tác bản piano concerto số 1 vào năm 1912. Đó là một tác phẩm đi ngược lại những giá trị truyền thống, mang trong nó sự cách tân khó được chấp nhận trong bối cảnh bấy giờ dù rằng tài năng của ông là không thể phủ nhận. Bản piano concerto số 2, cũng được Prokofiev hoàn thành khi ông vẫn đang là sinh viên tại nhạc viện Saint Petersburg, đã khơi gợi lên những cảm xúc u tối và sâu sắc hơn như Prokofiev nói về tác phẩm này trong cuốn “Nhật ký Xô viết” năm 1927. Tác phẩm này dài gấp đôi so với người tiền nhiệm của nó, chất chứa sự đa dạng của tâm trạng và những gì phức tạp nhất trong toàn bộ những sáng tác dành cho piano của Prokofiev.
Một trong những người đầu tiên nghe bản piano concerto này là Maximilian Schmidthof, người bạn thân nhất của Prokofiev mà nhà soạn nhạc luôn ngưỡng mộ vì vốn kiến thức phong phú. Schmidthof tỏ ra rất thích chương III và đặc biệt là cadenza trong chương I. Không lâu sau khi hoàn thành tác phẩm, Schmidthof đã đi tàu đến khu rừng Phần Lan và tự bắn vào đầu. Gia đình anh gặp khó khăn về tài chính và anh không thể trả những khoản nợ đó. Prokofiev là một trong hai người nhận được lá thư tuyệt mệnh. Rất sốc và đau khổ, nhà soạn nhạc đã dành tặng bản nhạc cho người bạn quá cố của mình.
Buổi ra mắt tác phẩm đã thu hút được phản ứng trái chiều của khán giả. Prokofiev nhớ lại: “Sau hợp âm kết thúc bạo lực, hội trường im lặng trong giây lát. Và rồi những tiếng la ó và chê bai vang lên, được đáp trả bằng những tràng pháo tay lớn, những tiếng đập của gậy và nhưng lời kêu gọi “encore”. Tôi bước ra chào hai lần, nghe thấy những tiếng tán thưởng và la ó vọng ra từ hội trường. Tôi rất vui vì concerto đã khơi dậy cảm xúc mạnh mẽ như vậy trong lòng khán giả”. Nhưng hầu hết các nhà phê bình đều chê bai. Yuri Kurdyumov đã viết trong Peterburgsky Listok: “một Babel của những âm thanh điên rồ chồng lên nhau mà không có vần điệu hay lý do”. Còn Nikolai Bernstein của Peterburgskaya Gazeta thì cho rằng cadenza đáng sợ của tác phẩm: “người ta có thể nghĩ rằng chúng được tạo ra bằng cách làm trống một lọ mực trên trang giấy một cách bất thường”. Vyacheslav Karatygin của Rech thì tiến bộ hơn, trong khi đoạn nhạc “khiến người nghe đơ ra vì sợ hãi, tóc dựng đứng” và mặc dù “khán giả rít lên”, ông vẫn nhấn mạnh: “Điều này chẳng có nghĩa lý gì. Mười năm kể từ bây giờ, công chúng sẽ chuộc lỗi cho sự giễu cợt đêm qua bằng cách đồng lòng tán thưởng một nhà soạn nhạc mới có tiếng ở châu Âu”.
Và đúng là 10 năm sau khán giả mới có thể được tiếp tục thưởng thức tác phẩm này, nhưng có lẽ chỉ đúng về mặt tên gọi của bản piano concerto. Năm 1918, Prokofiev rời nước Nga, tìm kiếm những cơ hội mới. Tác phẩm chưa được xuất bản vẫn được nhà soạn nhạc để lại trong nước và nó đã bị thiêu rụi sau một cơn hoả hoạn. Năm 1923, Prokofiev cố gắng dựng lại tác phẩm nhưng về thực chất: “được viết lại hoàn toàn đến mức gần như có thể được coi là [piano concerto] số 4”. Bản số 3 ra đời trước đó vào năm 1921. Theo như nhà soạn nhạc, bản viết lại này ít táo bạo nhưng lại có cấu trúc phức tạp hơn phiên bản gốc. Piano concerto số 2 này có 4 chương, dường như để phản ánh tham vọng của Prokofiev.

Phân tích tác phẩm

Chương I

mở ra một cách lặng lẽ, u ám với dàn dây và clarinet chơi một chủ đề staccato trên 2 ô nhịp. Piano tiếp quản, xây dựng chủ đề bằng tay trái ở chủ âm, gợi ý một ý tưởng trầm lắng, nghiêm túc. Âm nhạc này dẫn đến một trong những chủ đề châm chọc, mỉa mai đặc trưng của Prokofiev. Và rồi toàn bộ dàn nhạc dừng lại, để piano quay trở lại giai điệu mở đầu, bắt đầu đoạn cadenza dài bất thường và ngày càng trở nên phức tạp. Khi đến thời khắc bất hoà nhất, dàn nhạc lao vào với sức mạnh đáng sợ. Chương nhạc kết thúc khi piano chơi một tiếng vọng ma quái của chủ đề mở đầu.

Chương II

ma quỷ là một perpetuum mobile (chuyển động liên tục) ở giọng Rê thứ, yêu cầu piano phải di chuyển liên tục với tốc độ tối đa, dù ngắn nhưng là một thử thách thực sự đối với nghệ sĩ độc tấu. Một motif thoáng qua trên cello sẽ được xuất hiện lại trong chương cuối cùng.

Chương III

Thay vì một chương nhạc chậm rãi, du dương sau một khúc scherzo như mong đợi, tương tự như một concerto 4 chương nổi tiếng trước đó là piano concerto số 2 của Brahms, chương III của tác phẩm là một intermezzo vẫn yêu cầu tốc độ nhanh. Âm nhạc là một cuộc diễu hành kỳ cục, đôi khi tỏ ra thiếu sức sống, dường như để khắc hoạ và chế giễu cuộc sống ngột ngạt xung quanh. Giọng Son thứ đã quay trở lại, chủ đề đầu tiên được chơi trên double bass nặng nề. Cuộc diễu hành diễn ra đầy tâm trạng với timpani, bass drum, dàn dây và bassoon. Với sự xuất hiện của piano, cường độ được đẩy lên cao. Chủ đề thứ hai xuất hiện khẽ khàng, trữ tình ở giọng Rê thứ. Sự căng thẳng gia tăng và âm nhạc tăng dần cho đến khi đạt đến cao trào, khi chủ đề mở đầu quay trở lại trong tiếng trombone và những hợp âm của piano. Kèn gỗ làm giảm cường độ và chương nhạc kết thúc trong lặng lẽ với một nét dí dỏm lướt qua.

Chương IV

bắt đầu một cách điên cuồng, nhưng sau sự hỗn loạn, Prokofiev giới thiệu một giai điệu u sầu, nội tâm (được Myaskovsky đặc biệt ngưỡng mộ). Một cadenza mở rộng dẫn đến một phiên bản của chủ đề trữ tình này, được phân mảnh và ghép lại. Sau một thoáng suy tư, sự điên rồ của phần mở đầu quay trở lại và chương nhạc kết thúc bằng một chuyến du hành dựng tóc gáy của piano và dàn nhạc.
Ngay cả khi ở Paris, piano concerto số 2 này cũng gây ra tranh cãi, đặc biệt là những thách thức về mặt kỹ thuật. Thậm chí Prokofiev cũng được cho là không dễ dàng kiểm soát toàn bộ tác phẩm. Phải đến năm 1953, nó mới được thu âm lần đầu tiên với nghệ sĩ piano là Jorge Bolet. Về độ phổ biến, nó thua xa piano concerto số 3 và thậm chí là cả piano concerto số 1. Tuy nhiên, ngày nay, nhiều nghệ sĩ piano đã tìm đến với tác phẩm này, như là một sự khẳng định cho trình độ biểu diễn điêu luyện của họ.
Ngọc Tú (Tổng hợp)
Nguồn: