Liszt: Les Préludes

1406

Thông tin chung

Tác phẩm: Les Préludes, S. 97
Tác giả: Franz Liszt
Thời gian sáng tác: Khoảng thời gian 1845-1854.
Công diễn lần đầu: Ngày 23/2/1854 dưới sự chỉ huy của chính tác giả tại Weimar.
Độ dài: Khoảng 17 phút.
Cấu trúc tác phẩm: Tác phẩm được chơi liền mạch thành một chương duy nhất nhưng có 5 phần
Phần 1 – Andante – Andante maestoso (Câu hỏi) (Đô trưởng)
Phần 2 – L’istesso Tempo (Tình yêu) (Đô trưởng – Mi trưởng)
Phần 3 – Allegro ma non troppo – Allegro tempestoso (Bão tố) (La thứ)
Phần 4 – Un poco più moderato – Allegretto pastorale (Bức tranh đồng quê) (La trưởng – Đô trưởng)
Phần 5 – Allegro marziale animato – Andante maestoso (Trận chiến và Khúc khải hoàn) (Đô trưởng)
Thành phần dàn nhạc: 3 flute, 2 oboe, 2 clarinet (giọng Đô, Si giáng và La), 2 bassoon, 4 horn (giọng Đô), 2 trumpet (giọng Đô), 3 trombone, timpani, snare drum, bass drum, cymbals, harp và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Vào những năm 1840, Franz Liszt đã định cư tại Weimar và dần từ bỏ cuộc sống lang thang của một ngôi sao piano lừng danh để cống hiến cho sáng tác và chỉ huy dàn nhạc. Cuối tháng 7/1844, ông tới Marseille và được đề nghị sáng tác một bản hợp xướng để biểu diễn tại đây. Liszt đến thăm nhà thơ Joseph Autran và được tặng bài thơ Les Aquilons (Những ngọn gió phương Bắc). Liszt bắt tay vào sáng tác bản hợp xướng cùng tên vào ngày 24/7/1844. Tác phẩm được công diễn vào ngày 6/8/1844 tại Marseille dưới dạng hợp xướng nam với phần đệm dành cho hai piano, trong đó một do chính Liszt đảm nhiệm. Ngoài ra, Autran còn tặng thêm cho Liszt ba bài thơ nữa của mình: La Terre (Trái đất), Les Flots (Những cơn sóng) và Les Astres (Những vì sao). Dựa trên các bài thơ này, Liszt tiếp tục phổ nhạc và hoàn thành bộ tác phẩm Les quatre éléments (Bốn nguyên tố), dựa trên các khái niệm từ Hi Lạp cổ đại, những vật chất cơ bản cấu tạo nên vạn vật: Khí, Đất, Nước, Lửa. Ông cũng đã hoàn thành việc phối khí cho dàn nhạc. Cùng với đó, vào năm 1850, Liszt cũng gần như hoàn thành Ouverture des quatre éléments, khúc mở đầu cho Les quatre éléments. Tuy nhiên, chưa tìm thấy bằng chứng cho thấy toàn bộ Les quatre éléments được công diễn lúc Liszt sinh thời.

Năm 1854, do mong muốn có một tác phẩm mới cho buổi hoà nhạc gây quỹ lương hưu của dàn nhạc triều đình tại Weimar, Liszt lại một lần nữa quay trở về với Ouverture des quatre éléments còn dang dở. Có khả năng rằng tác phẩm này đã trải qua nhiều sự chỉnh sửa lớn trước khi mang tên và hình thức cuối cùng. Trong buổi hoà nhạc tại Weimar vào ngày 23/2/1854, các tác phẩm Giao hưởng số 4, Concertstück cho bốn kèn horn của Robert Schumann cùng với hợp xướng An die Künstler (Gửi đến nghệ sĩ) của Liszt và Les Préludes (Những khúc dạo đầu) được biểu diễn. Trước buổi biểu diễn một ngày, Liszt cho đăng thông báo trên Weimarische Zeitung về chương trình hoà nhạc, ông đã sử dụng thuật ngữ Symphonische Dichtung (Thơ giao hưởng) để gọi Les Préludes của mình. Và đó là một trong những cột mốc vô cùng quan trọng đối với nền âm nhạc cổ điển thế giới, đánh dấu sự xuất hiện chính thức của thể loại Thơ giao hưởng và mở ra một hình thức sáng tác mới, dần thoát khỏi những khuôn mẫu phần nào cứng nhắc và bảo thủ của truyền thống Cổ điển.

Trên thực tế, đây không phải tác phẩm thơ giao hưởng đầu tiên trên thế giới. Trước Liszt, Carl Loewe đã sử dụng thuật ngữ Tondichtung (cũng có nghĩa là thơ giao hưởng), nhưng để chỉ tác phẩm Mazeppa, Op. 27 (1828) dành cho piano độc tấu, dựa trên bài thơ cùng tên của Lord Byron. Năm 1847, César Franck sáng tác Ce qu’on entend sur la montagne (Những gì ta nghe thấy trên núi) dành cho dàn nhạc, dựa trên bài thơ Victor Hugo. Tác phẩm này có những đặc điểm tương tự như các bản thơ giao hưởng sau này. Về mặt nội dung, đó là việc dùng để minh họa hoặc gợi lên nội dung của một bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tranh vẽ, phong cảnh hoặc các nguồn khác (không phải âm nhạc). Về mặt hình thức, nó thường ở dạng một chương nhạc (nếu nhiều chương nhạc thì thường được biểu diễn liền mạch và gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt nội dung), rời xa các hình thức quen thuộc như sonata-allegro, rondo, minuet. Thay vào đó, sự thống nhất và phát triển của tác phẩm thường được xây dựng dựa trên sự biến hoá của chủ đề một cách linh hoạt, phức tạp và rộng mở hơn. Nó có sự cách tân hơn rất nhiều những overture hoà nhạc được ra đời trước đó. Ngay cả với bản thân Liszt, Les Préludes cũng không phải là bản thơ giao hưởng đầu tiên của ông. Trước đó, ông cũng đã sáng tác Ce qu’on entend sur la montagne và Tasso: lamento e trionfo (Tasso: than vãn và chiến thắng). Nhưng phải đến Les Préludes, ông mới chính thức gọi nó là một bản thơ giao hưởng. Để tạo nên tính toàn vẹn cho hình thức mới này, Liszt đã sử dụng thủ pháp lấy một motif âm nhạc đơn giản, ngắn gọn làm nguồn cảm hứng duy nhất cho tác phẩm. Motif này đặc trưng, được gọt giũa khéo léo và có khả năng biến đổi thành một loạt các hình tượng và giai điệu độc đáo một cách đáng kinh ngạc, đồng thời vẫn giữ được bản sắc của mình. Cụ thể, chất liệu được Liszt sử dụng trong Les Préludes là ba nốt nhạc (Đô-Si-Mi) đóng vai trò là nguồn gốc của các chủ đề trong mỗi phần, rất khác nhau về tâm trạng, nhịp độ và giọng điệu và minh hoạ cho tất cả, cho dù đó là tình yêu, chiến tranh, cái chết hay thiên nhiên. Với ý tưởng này, Liszt đã tạo ra một sự đổi mới lớn trong phong cách âm nhạc Lãng mạn và cung cấp một hình mẫu cho rất nhiều nhà soạn nhạc thế hệ đi sau.

Phân tích

Về mặt hình thức, Les Préludes gồm năm phần: Câu hỏi, Tình yêu, Bão tố, Bức tranh đồng quê và Trận chiến và Khúc khải hoàn được chơi liền mạch.

Sau hai tiếng pizzicato, bộ dây cất lên một giai điệu vốn chính là chủ đề thanh nhạc do các vì sao hát ở đầu hợp xướng Les Astres, được cello và double bass nhấn mạnh, sau đó rồi phát triển bằng một hợp âm rải đi lên của violin và viola. Chủ đề này chỉ có ba nốt nhạc, là yếu tố thống nhất toàn bộ chất liệu của Les Préludes, tạo nên tính chất tuần hoàn cho tác phẩm, một yếu tố quan trọng trong hình thức của thơ giao hưởng. Âm nhạc từ im lặng trỗi dậy rồi lại trở về im lặng, được tạo ra với cảm giác mất phương hướng về nhịp điệu khi pizzicato và những cú nhấn vĩ đều được dịch chuyển có hệ thống sang phách yếu và một sự mơ hồ về hoà âm khi có sự dịch chuyển nhập nhằng giữa Đô trưởng và La thứ. Toàn bộ dàn nhạc sau đó được nâng cao thêm một cung và rồi âm nhạc bắt đầu tiến tới, với ostinato của bộ gỗ đi kèm sự lặp lại ngày càng dồn dập của chủ đề ở bộ dây, trong một chuỗi tăng dần theo nửa cung, tạo ra căng thẳng ngày một tăng cho đến khi chạm tới hợp âm chủ Đô trưởng, giải quyết được toàn bộ những căng thẳng về hoà âm xảy ra trước đó. Trombone khẳng định lại motif ba nốt bằng cách nới rộng quãng ngày càng mãnh liệt, dồn dập hơn.

Phần 2 bắt đầu với nhịp điệu tương tự, nhưng với cách diễn đạt dịu dàng và trữ tình. Ở đây chứa đựng các chất liệu âm nhạc gắn liền rõ ràng với hình ảnh về tình yêu trong hợp xướng Les Astres và La Terre. Chủ đề chính do cello đảm nhiệm là sự trích dẫn chính xác trong phần hai của hợp xướng Les Astres, thực chất là sự dịch chuyển lên một quãng ba của chủ đề đầu tiên ở phần 1, vì vậy vẫn chứa đựng motif ba nốt nhạc. Violin 1 nhẹ nhàng đệm cho chủ đề này các nốt móc kép, vốn bắt nguồn trực tiếp từ những hợp âm rải đi xuống cuối phần trước đó: nguyên tắc biến đổi chủ đề do đó còn được mở rộng sang cả bè phụ và liên tục được củng cố thêm. Một chủ đề mới ở giọng Mi trưởng xuất hiện, trên bè horn và viola, được Liszt ghi chú espressivo ma tranquillo (biểu cảm nhưng êm dịu), bắt nguồn từ phần bốn La Terre, gắn liền với nội dung về tình yêu trần thế, cũng là một biến thể của motif ba nốt nhạc. Được ngắt nhịp bằng harp, nhịp điệu lắc lư này chắc chắn là một barcarolle, bắt nguồn từ hợp xướng Les Flots. Chủ đề tình yêu thứ hai này sau đó được tái hiện trong một cuộc đối thoại giữa bộ gỗ và bộ dây và khơi dậy những xung động đầy đam mê. Nó được xen kẽ giữa những bùng nổ rực lửa của violin ở quãng cao, nhiều đoạn ngưng đột ngột và tiếng thở dài gợi cảm từ bộ gỗ, trực tiếp nối tiếp truyền thống Rêveries-passions trong Symphonie fantastique, hoặc Scène d’amour trong Roméo et Juliette của Hector Berlioz, tác phẩm mà Liszt từ năm 1846 đã là một người hâm mộ nhiệt thành.

Phần 3 là một ví dụ tiêu biểu cho di sản của phong trào Sturm und Drang (Bão táp và xung kích) trong âm nhạc Liszt. Đoạn ngắn nhưng dữ dội này kết hợp chất liệu âm nhạc gắn liền với việc gợi tả bão tố biển cả và đắm tàu trong Les Aquilons và Les Flots, có tính hình tượng rất cao. Motif ba nốt lại xuất hiện, lần này dưới hình dáng những nốt bán cung đáng lo ngại, gợi lên khung cảnh của gió hoặc sóng, nhanh chóng trở nên mạnh mẽ, được dẫn dắt bằng các tremolo của dàn dây. Cơn bão bùng nổ với một dòng móc đơn dữ dội trên dàn dây, với mỗi nhịp được kèn đồng nhấn mạnh mẽ, được bắt đầu từ những ô nhịp đầu tiên của Les Aquilons. Hình ảnh này được lặp lại hai lần, với giọng điệu được tăng dần để rồi ổn định ở La thứ với âm nhạc được nhắc lại trực tiếp từ phần mở đầu của Les Flots. Chúng ta có lẽ cần lưu ý đến chi tiết rằng phần lớn âm nhạc của Les quatre éléments được Liszt sáng tác trong quãng thời gian ông ở các thành phố cảng Marseille, Valencia, Malaga và Lisbon nơi mà các câu chuyện về bão tố và những vụ đắm thuyền luôn hiện hữu.

Hiệu ứng khung cảnh đồng quê thanh bình xuất hiện sau cơn bão đã được chứng minh là rất thành công trước đó (Giao hưởng số 6 của Ludwig van Beethoven hay overture Guillaume Tell của Gioachino Rossini). Và một lần nữa, tính tích cực của nó lại được Liszt khẳng định trong phần 4 này. Sự bình yên trở lại với phần tái hiện của chủ đề tình yêu đầu tiên, cũng chính là chủ đề cuối cùng vang lên ngay trước cơn bão, hé lộ một cấu trúc tuần hoàn trong đó cơn bão đóng vai trò trung tâm. Chủ đề này ban đầu được oboe, nhạc cụ luôn gắn với những liên tưởng về đồng quê, ngân lên một cách tự do, sau đó được tô điểm bằng ánh sáng nhẹ nhàng của sự kết hợp giữa dàn violin chia nhỏ các bè và harp. Một chủ đề mới mẻ và duyên dáng, thực chất được bắt nguồn từ chủ đề tình yêu thứ hai, tạo nên “chủ đề đồng quê”, là sự giao lưu vui tươi giữa các nghệ sĩ độc tấu của bộ hơi và dàn dây, theo nhịp 6/8, khắc hoạ những người nông dân đang nhảy múa vui vẻ. Giọng điệu được ổn định ở La trưởng. Sau đó, chủ đề tình yêu đầu tiên và chủ đề đồng quê kết hợp với nhau, cường độ tăng dần, giọng được sang Đô trưởng, nhịp điệu ngày một mang tính hành quân với sự tham gia của tuba và timpani. Đây là quãng thời gian hiếm hoi mà Les quatre éléments không xuất hiện.

Phần kết ngắn gọn, diễn ra trong một tốc độ chóng mặt, đòi hỏi trình độ điêu luyện của những nghệ sĩ trình tấu và trung thành với nguyên tắc biến đổi chủ đề. Chủ đề tình yêu đầu tiên được chuyển thành một bản hoà tấu kèn đồng ở giọng Đô trưởng với sự tham gia của trumpet và horn. Các nhạc cụ bộ hơi chồng lên nhau ở nhịp điệu chấm dôi, dàn dây tremolo cuồng nhiệt, những đoạn chạy gam cuồng nhiệt đến bất ngờ, tiếng trumpet giục giã, tất cả khiến chúng ta liên tưởng đến hình ảnh của một trận chiến. Tất cả đều ở giọng trưởng, mang đến sự nhiệt huyết và hân hoan. Motif ba nốt vẫn xuất hiện, nhưng ẩn mình ở sự rung lên của viola và cello. Chủ đề tình yêu thứ hai được chuyển đổi thành khúc khải hoàn với sự biến đổi được thực hiện bằng cách tăng dần theo các quãng ba (Đô trưởng – Mi trưởng – Son giáng trưởng/Pha thăng trưởng – Si trưởng) tạo nên sự phấn khích ngày càng mạnh mẽ hơn. Liszt khéo léo dịch chuyển về giọng chủ Đô trưởng, cường độ được tăng cường với sự bổ sung từ nhóm các nhạc cụ bộ gõ (snare drum, bass drum, cymbals), kết thúc trong một coda ngắn đầy tính khải hoàn.

Về mặt nội dung, Liszt đã đặt tên cho bản thơ giao hưởng của mình là Les Préludes (d’après Lamartine) [Những khúc dạo đầu (theo Lamartine)], lấy theo tên một bài thơ trữ tình trong tuyển tập Nouvelles méditations poétiques (Những suy tư thơ mới) của Alphonse de Lamartine, được sáng tác vào năm 1823. Dường như Liszt muốn xoá đi sự liên tưởng của tác phẩm với Les quatre éléments. Năm 1856, ông cho xuất bản tác phẩm với lời đề tựa: “Cuộc sống của chúng ta còn là gì ngoài một chuỗi những khúc dạo đầu cho Bài thánh ca vô danh, mà nốt nhạc đầu tiên và trang trọng được Thần Chết cất lên? Tình yêu là bình minh rực rỡ của mọi sự tồn tại; nhưng số phận sẽ ra sao nếu những niềm vui hạnh phúc đầu tiên không bị gián đoạn vì một cơn bão nào đó, mà luồng gió chết chóc của nó xua tan đi mọi ảo ảnh đẹp đẽ, tia chớp định mệnh của nó thiêu rụi đền thờ? Và ở đâu có một linh hồn bị thương tổn nặng nề nào, sau khi thoát khỏi một trong những trận cuồng phong ấy, lại không cố gắng tìm sự nghỉ ngơi cho ký ức mình trong sự thanh thản yên bình của cuộc sống nơi đồng nội? Thế nhưng, con người hiếm khi phó mặc bản thân mình được lâu cho sự an hưởng của tĩnh lặng nhân từ mà ban đầu họ đã được chia sẻ trong vòng tay của Tự nhiên, và khi “tiếng kèn báo động vang lên”, họ vội vã tiến đến vị trí nguy hiểm, bất kể cuộc chiến là gì đi chăng nữa, để cuối cùng tìm lại ý thức đầy đủ và quyền sở hữu trọn vẹn đối với năng lực của mình trong chiến đấu”. Những câu từ này là của công nương Carolyne zu Sayn-Wittgenstein, người có mối quan hệ gắn bó với Liszt trong hơn 40 năm, thường xuyên trao đổi thư từ với nhà soạn nhạc. Tháng 3/1854, bà đã viết một bài luận dài về Les Préludes, trong đó có trích dẫn một số câu thơ của Lamartine. Những lời đề tựa trên là phiên bản rút gọn của những suy tư trăn trở trên. Trong lần Hans von Bülow trình diễn tác phẩm tại Prague vào ngày 30/4/1860, một lời diễn giải khác cho Les Préludes, có lẽ của chính Bülow, được giới thiệu. Theo đó, Les Préludes là sự minh hoạ cho quá trình trưởng thành của một con người, như một phác thảo cho một tiểu sử nhân vật.

Trên thực tế, Liszt không đưa một tuyên bố nào mang tính chương trình cho tác phẩm của mình. Trong bức thư ngày 26/3/1857 gửi cho người chú Eduard Liszt, ông gọi Les Préludes là: “những khúc dạo đầu (prelude) của cháu (mà thực ra chỉ là những khúc dạo đầu cho con đường sáng tác của cháu”. Mặc dù vậy, những cách diễn giải về chủ đề tình yêu, cơn bão, đồng quê luôn nhận được sự đồng thuận cao từ phía các nhà nghiên cứu âm nhạc vì chúng dựa trên những chủ đề có liên quan thực sự đến những hình ảnh này dựa trên lời ca của Les quatre éléments.

Với sự cách tân mạnh mẽ của Les Préludes, hiển nhiên việc tác phẩm được công nhận ngay là điều không thể. Nhà phê bình Eduard Hanslick, người trung thành với âm nhạc tuyệt đối, đã lên án ý tưởng về một bài thơ giao hưởng là sự mâu thuẫn về mặt thuật ngữ. Ông cũng phủ nhận rằng âm nhạc theo bất kỳ cách nào là một ngôn ngữ có thể diễn đạt bất cứ điều gì, và chế giễu lời khẳng định của Liszt rằng nó có thể diễn giải những ý tưởng hoặc khẳng định cụ thể. Khi tác phẩm được công diễn ở Mĩ vào năm 1857, dưới hình thức hai piano, Dwight’s Journal of Music đã chê bai: “Chúng ta sẽ nói gì về Les Préludes, một bản thơ giao hưởng của Liszt. Thơ ca mà chúng ta lắng nghe trong vô vọng. Nó như thể bị lạc lõng giữa khói bụi và sự hỗn loạn kinh hoàng của chiến trường. Thỉnh thoảng có những đoạn ngắn ngủi, thoáng qua của một điều gì đó tinh tế và ngọt ngào đối với thính giác và tâm trí, nhưng chúng nhanh chóng bị nuốt chửng trong một hỗn hợp dài, đơn điệu, mệt mỏi của những khối âm thanh co giật, ầm ầm, rền rĩ, bị ném qua ném lại như thể đang so kè từ nhạc cụ này sang nhạc cụ khác. Chúng tôi hẳn là những người nghe rất ngu ngốc; nhưng sau đó chúng tôi cảm thấy như thể mình đã bị ném đá, bị đánh đập, bị giẫm đạp dưới chân, và theo mọi cách thì đều bị đối xử tệ hại”.

Sau Les Préludes, Liszt còn sáng tác thêm 10 bản thơ giao hưởng nữa, đưa tổng số tác phẩm của mình trong thể loại này lên con số 13. Tuy nhiên, không một bản nhạc nào có thể sánh bằng Les Préludes về độ hấp dẫn và sự nổi tiếng. Vào buổi bình minh của thời kỳ Lãng mạn, Les Préludes đã xuất hiện, thực hiện một cuộc cách mạng thật sự, thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận âm nhạc vốn đã được duy trì theo lối mòn trong một khoảng thời gian rất lâu. Bằng cách sử dụng hình thức tuần hoàn và biến đổi chủ đề, mà ông sử dụng thành thạo trong Les Préludes, cấu trúc âm nhạc ngày một trở nên lỏng lẻo hơn, nhưng vẫn tràn đầy đam mê, hỗn loạn, bi thương và hân hoan anh hùng. Thứ âm nhạc tự do này dường như được sinh ra để khám phá những chiều sâu tâm lý mới. Theo nhà âm nhạc học Hugh MacDonald, trong quá trình phát triển thơ giao hưởng, Liszt đã: “đáp ứng ba khát vọng chính của âm nhạc thế kỷ 19: gắn kết âm nhạc với thế giới bên ngoài, dung hòa hình thức nhiều chương… và nâng tầm âm nhạc chương trình khí nhạc lên một mức cao hơn cả opera, thể loại vốn trước đó được xem là hình thức biểu đạt âm nhạc cao nhất”. Đáp ứng những nhu cầu này, các bản thơ giao hưởng đã đóng vai trò quan trọng, mở rộng phạm vi và sức mạnh biểu cảm của nền âm nhạc tiên phong thời bấy giờ”. Và với việc ra đời của Les Préludes, ngoài việc đóng vai trò quan trọng mang tính cột mốc về mặt lịch sử, bản thân tác phẩm còn chứa đựng một vẻ đẹp nội tại mà hiếm có một bản thơ giao hưởng nào khác có thể sánh được.

Cobeo