“Cây đàn cello bao phủ âm vực của cả bốn giọng hát, vì vậy mọi rung động đều nằm trong phạm vi giọng nói của con người.” – Lynn Harrell
Là một trong những nghệ sĩ cello nổi bật nhất trong thế hệ của mình, Lynn Harrell đã xây dựng danh tiếng cho mình bằng việc sở hữu một âm thanh sắc sảo và xuyên thấu đồng thời vẫn tạo ra được những nốt nhạc pianissimo tinh tế và những cung bậc cảm xúc phong phú. Khởi đầu là một nhạc công cello của Cleveland Orchestra, sau bảy năm, Harrell trở thành một nghệ sĩ độc tấu, xuất hiện thường xuyên với nhiều nhạc trưởng danh tiếng cùng những dàn nhạc danh giá nhất, giành được sự kính trọng từ đồng nghiệp cũng như khán giả trên khắp thế giới. Bên cạnh đó, Harrell cũng rất tích cực tham gia biểu diễn âm nhạc thính phòng với những người bạn thân thiết như Vladimir Ashkenazy hay Itzhak Perlman. Ông cũng tham gia giảng dạy và là giám khảo của rất nhiều cuộc thi uy tín.
Lynn Harrell sinh ra tại Manhattan, New York vào ngày 30/1/1944 trong một gia đình âm nhạc, là em út trong số ba người con. Cha cậu, ông Mack Harrell là ca sĩ baritone tại Metropolitan Opera và mẹ, bà Marjorie McAlister Fulton là một nghệ sĩ violin. Tuy nhiên, khi còn nhỏ, Lynn không tỏ ra hào hứng lắm với âm nhạc, cậu yêu thích thể thao hơn, tham gia vào các đội bóng chày, bóng rổ và bóng bầu dục. Mặc dù vậy, cậu vẫn bị bắt buộc theo học piano khi lên 8 tuổi dù không tỏ ra mấy hào hứng. 12 tuổi, Lynn và gia đình chuyển đến sinh sống tại Dallas khi ông Mack trở thành giáo viên tại Southern Methodist University. Tình cờ, trong một buổi hoà nhạc thính phòng tại gia đình, cậu bé cảm thấy khá thích thú với cello và bắt đầu theo học nghiêm túc với Lev Aronson, bè trưởng bè cello tại Dallas Symphony. Sau này Harrell cho biết, ông có thân hình lớn hơn bạn bè đồng trang lứa và lý do ông lựa chọn cello là vì đây là nhạc cụ lớn nhất mình nhìn thấy vào thời điểm này. Harrell thường nhiều lần nói rằng nếu khi đó ông biết đến double bass thì có lẽ ông đã lựa chọn nhạc cụ này. Với việc dành hầu hết thời gian ngoại khoá cho âm nhạc, cậu bé đã phải hi sinh rất nhiều như Harrell nhớ lại: “Tôi đã từ bỏ sự nổi tiếng, bạn bè. Tôi bỗng nhiên trở thành người mắc bệnh phong. Không ai giống như tôi. Và điều đó rất, rất đau đớn. Rất cô đơn”. Aronson chính là người đã truyền cảm hứng và tình yêu âm nhạc sâu sắc cho cậu học trò của mình: “Ông ấy chính người bạn thân đầu tiên của tôi trong thế giới cảm xúc đó”.
Mọi thứ càng trở nên tồi tệ hơn khi Harrell 15 tuổi. Năm 1960, ông Mack qua đời vì bệnh ung thư và chỉ hai năm sau đó, bà Marjorie mất vì tai nạn giao thông tại Denton, Texas. Chỉ âm nhạc mới có thể giúp chàng trai trẻ bước tiếp. Trong giai đoạn trải qua những thảm kịch này, việc học tập của Harrell đã có sự thăng tiến vượt bậc. Anh đã theo học tại hai trong số những nhạc viện hàng đầu thế giới. Ban đầu là tại Juilliard School với Leonard Rose và sau đó là Curtis Institute of Music cùng Orlando Cole. Harrell dành rất nhiều sự kính trọng cho những thầy giáo của mình, đặc biệt là Rose, người mà ông đánh giá là ở cùng đẳng cấp với Mstislav Rostropovich và János Starker. Harrell cho biết cả hai đều chú trọng đến việc khai thác cá tính của mỗi học trò thay vì áp đặt quan điểm của cá nhân mình lên họ. Vào ngày 18/3/1961, Harrell đã có màn ra mắt cùng New York Philharmonic dưới sự chỉ huy của Leonard Bernstein tại Carnegie Hall trong loạt chương trình Hoà nhạc dành cho những người trẻ tuổi. Và vào tháng 4/1962, anh đã tham gia cuộc thi âm nhạc mang tên Tchaikokvsky lần thứ hai (là lần đầu tiên dành cho cello) và lọt vào tới vòng bán kết. Nhớ lại quãng đó, Harrell cho biết: “Tôi đã mất một thời gian dài để chấp nhận nó. Đó là một trải nghiệm mà tôi không muốn bất kỳ ai phải trải qua. Nhưng tôi thấy sức phục hồi của tinh thần con người thật phi thường… Tôi chuyển đến nhà bạn bè của gia đình với một chiếc vali và cây đàn cello cho đến khi tôi 18 tuổi”. Nhưng Harrell cho rằng mình vẫn may mắn hơn rất nhiều người khác: “Điền trang đã được bán và tôi đã có thể mua một chiếc đàn cello Montagnana, sẽ có vẻ như một thảm hoa hồng khi so sánh với những gì nhiều người khác phải chịu đựng”.
Sự nghiệp âm nhạc của Harrell bắt đầu khi anh lên 18 tuổi. Trong một lần tới thăm cha đỡ đầu của mình, nhạc trưởng, nhà chỉ huy hợp xướng danh tiếng Robert Shaw tại Cleveland, Harrell có cơ hội chơi đàn cho George Szell, người lúc này đang là giám đốc âm nhạc tại Cleveland Orchestra. Szell, người từng có mối quan hệ tốt đẹp với ông Mack trước đây khi hai người làm việc chung tại Metropolitan Opera đã nhận Harrell vào làm thành viên của dàn nhạc. Ý tưởng này được Rose rất ủng hộ, cho rằng đó sẽ là một bước chạy đà quan trọng trước khi trở thành nghệ sĩ độc tấu, chính là những gì mà ông đã trả qua. Còn với chàng trai trẻ Harrell, sau những tháng này lang bạt, việc có một công việc ổn định là điều tuyệt vời: “Vào thời điểm đó, tôi bị thu hút không phải vì thử thách khi là thành viên của một dàn nhạc lớn, mà bởi sự chắc chắn của một tấm séc trả lương hàng tuần”. Và Harrell đã gắn bó với Cleveland Orchestra kể từ đó. Vào năm 1964, anh trở thành bè trưởng. Harrell đã có những năm tháng tốt đẹp tại đây: “Âm nhạc vô tận và tuyệt vời, tôi rất thích cơ hội và thử thách khi được chơi nhạc cùng các đồng nghiệp và làm quen với những nhạc trưởng mới”. Szell đã khơi gợi lên niềm hứng khởi trong Harrell: “Ông ấy đã thách đố tôi tự hào về cách chơi của mình. Đó không phải là lòng kiêu hãnh cũ – tự mãn và vô định trong những điều tầm thường của việc chơi nhạc cụ. Mà là đắm chìm vào toàn bộ tâm lý và tính cách của nhà soạn nhạc. Ông ấy đã dạy tôi tôn trọng đối với sức mạnh sáng tạo đằng sau một tác phẩm âm nhạc tuyệt vời và cảm kích những đồng nghiệp: bị ông ấy chỉ trích và chê bai, tôi buộc phải mở lòng và lắng nghe những nhạc sĩ vĩ đại xung quanh mình”. Tại đây, Harrell có một tình bạn trọn đời với James Levine, người có một khoảng thời gian là trợ lý cho Szell. Levine đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn cảm hứng và hình thành nên phong cách chơi đàn của Harrell. Levine khuyến khích người bạn của mình không chỉ nghiên cứu bè cello trong các tác phẩm biểu diễn mà là toàn bộ tổng phổ. Điều này sẽ trở thành thói quen trong suốt cuộc đời Harrell, người luôn quan tâm đến mọi khía cạnh của phần đệm trong tác phẩm mà mình sẽ biểu diễn. Đó cũng là lời nhắn nhủ của Harrell cho tất cả những nghệ sĩ đàn dây muốn biểu diễn độc tấu: trước tiên hãy trở thành thành viên của một dàn nhạc hoặc nhóm nhạc thính phòng. Szell qua đời vào mùa hè năm 1970, lúc này Harrell đã 27 tuổi và cảm thấy đã sẵn sàng cho sự nghiệp của một nghệ sĩ độc tấu.
Trên thực tế, ngay từ 1964, Harrell đã có những buổi biểu diễn cá nhân của riêng mình khi cùng với nghệ sĩ piano trình tấu tại Carnegie Hall. Chương trình đã được The Times miêu tả là “chiến thắng”. Nhà báo Theodore Strongin đã viết: “Cậu ấy có âm nhạc từ trong xương tuỷ mình, thêm vào đó là một nền tảng kỹ thuật khiến người gấp đôi, gấp ba tuổi cậu ấy phải ghen tị… Đó là một nghệ sĩ hoàn thiện và nhân vật đích thực của sân khấu biểu diễn”. Tuy nhiên, những buổi độc tấu vào năm 1971 đã diễn ra không hề suôn sẻ, chỉ thu hút được số lượng khán giả khiêm tốn. Một khoảng thời gian sau cũng như vậy. Phải đến năm 1972, trong một lần biểu diễn cùng Levine tại Lincoln Centre, Harrell mới thực sự ghi được dấu ấn của mình. Harold C. Schonberg của New York Times đã đánh giá: “Sẽ rất khó để khen ngợi quá mức về lối chơi tuyệt vời của Harrell… Anh ấy tạo ra một âm sắc ấm áp, du dương ở bất kỳ quãng âm nào – một trong những âm thanh cello cân bằng nhất mà người ta có thể nghe thấy ở bất kỳ đâu. Kỹ thuật, độ chính xác của ngữ điệu, nhịp điệu – chàng trai trẻ này có tất cả”. Kể từ đó, sự nghiệp độc tấu của Harrell đã thăng hoa. Ông được nhận được lời mời biểu diễn tại hầu hết những phòng hoà nhạc danh giá nhất trên thế giới cùng với nhiều nhạc trưởng lừng danh vào được một hợp đồng ghi âm với Decca. Harrell đã thực hiện hơn 30 đĩa nhạc, bao gồm hầu hết những tác phẩm tiêu chuẩn dành cho cello cũng như nhiều sáng tác đương đại, trong đó nhiều bản nhạc được dành riêng cho ông. Tuy nhiên, Harrell không hề yêu thích công việc này. Ông cho biết: “Tôi chưa bao giờ thích bất kỳ bản thu âm nào tôi đã thực hiện. Có lẽ trong tuần đầu tiên hoặc lâu hơn sau khi tôi nhận được đĩa nhạc, tôi nghe nó và tôi thích nó. Nhưng sau đó… Thu âm là một cách tuyệt vời để ghi lại vị trí của một nghệ sĩ trong cuộc sống sáng tạo của mình, và bây giờ việc tái tạo âm thanh ở mức tuyệt vời như vậy, nhưng các buổi biểu diễn thực tế có tính giao tiếp nhiều hơn so với các đĩa nhạc”.
Song song với việc biểu diễn, Harrell cũng rất yêu thích giảng dạy: “Vì tôi đã được ban tặng, nên tôi luôn có nghĩa vụ phải trao tặng cho người khác. Tôi luôn cảm thấy rằng mình nợ người khác một món nợ âm nhạc lớn và tôi phải trả nợ thông qua thế hệ tiếp theo”. Ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp độc tấu vào năm 1971, Harrell cũng đồng thời trở thành thầy giáo University of Cincinnati – College-Conservatory of Music, sau đó là tại Royal Academy of Music, London hay Juilliard School. Ngoài ra không thể không kể tới một phần quan trọng trong sự nghiệp của Harrell là các liên hoan âm nhạc mùa hè như Verbier, Thụy Sĩ và Aspen, Colorado. Ông cũng nhiều năm đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc của Học viện Âm nhạc Los Angeles, một chương trình đào tạo mùa hè. Tài năng của Harrell đã được ghi nhận khi vào năm 1975, giải thưởng âm nhạc vừa mới được nhà từ thiện Avery Fisher thành lập trước đó dành cho những nghệ sĩ Mĩ vì những thành tựu nổi bật cho âm nhạc cổ điển đã được trao cho ông (cùng với Murray Perahia).
Mặc dù là con của một ca sĩ nhưng dấu ấn của ông Mack lên con trai của mình là không lớn. Harrell không nhớ mình đã nghe cha mình hát ở nhà, ngoại trừ các bài tập thanh nhạc: “Ông ấy không có nhiều ảnh hưởng về mặt âm nhạc đối với tôi cho đến sau khi ông qua đời”. Tuy nhiên, sau này Harrell bắt đầu đắm mình vào các bản thu âm của cha mình, để tiếp thu những phẩm chất khiến cây đàn cello có thể cất lên tiếng hát. Thói quen lắng nghe đĩa nhạc của những ca sĩ hàng đầu đã được Harrell duy trì trong suốt cuộc đời mình, con trai ông Eben cho biết. Đó chính là phẩm chất chính trong phong cách biểu diễn của Harrell, coi mỗi tác phẩm âm nhạc là một vở opera và ông hoá thân hoàn toàn vào câu chuyện đó. Ba người thầy của Harrell: Aronson, Rose và Cole đều có những cách cầm vĩ khác nhau và vì vậy Harrell có được sự thoải mái trong việc lựa chọn cho riêng mình. Ông cho biết mình có tới ba hoặc bốn cách cầm vĩ khác nhau, tuỳ thuộc vào bản nhạc. Với thể hình to lớn, Harrell luôn nổi bật mỗi khi xuất hiện trên sân khấu. Ông được mệnh danh là “người khổng lồ hoà nhã” vì sở hữu một chiều cao lên tới 1,93m, có vóc dáng của một cầu thủ bóng bầu dục, cánh tay dài và đôi bàn tay to lớn dường như bao trọn cây đàn cello nhưng lại tạo ra âm thanh tinh tế, nhạy cảm và xuyên thấu.Trong suốt nhiều năm, Harrell ước tính bản thân dành khoảng 300 ngày/năm cho việc lưu diễn, trở thành một trong những nghệ sĩ bận rộn nhất trên thế giới.
Cây đàn Montagnana năm 1720 mà Harrell có được sau khi bán đi điền trang của cha mẹ đã gắn bó với ông trong nhiều năm tháng. Sau này ông còn sở hữu nhạc cụ Stradivari năm 1673 từng thuộc về Jacqueline du Pré và một cây đàn do nghệ sĩ Christopher Dungey chế tác vào năm 2008. Mỗi khi bay đi biểu diễn, chủ yếu là với hãng Delta Airways, ông không bao giờ gửi nhạc cụ của mình mà luôn mua một vé cho nó đồng hành bên cạnh mình. Harrell đăng ký tích luỹ dặm bay cho nó với tên gọi là Ông Cello Harrell. Điều này đã vi phạm quy định của Delta Airways dẫn đến việc hãng đã huỷ bỏ tư cách khách hàng thường xuyên của Harrell vào năm 2012. Ông phản đối vì cho rằng: “Tôi xứng đáng được như vậy. Tôi trả tiền cho điều đó”. Qua việc này, Harrell muốn nhấn mạnh hơn về mối liên kết giữa nghệ sĩ biểu diễn và nhạc cụ của họ: “Chúng tôi lớn lên khi biết rằng nhạc cụ có một linh hồn và bạn gắn bó với nó. Bạn dành tất cả những năm tháng trong phòng tập một mình, ngoại trừ cảm xúc, tâm lý và nhạc cụ của bạn – nó có một phẩm chất kết nối. Vì vậy, khi xảy ra một vấn đề gì xảy ra với nhạc cụ của bạn về mặt tiền bạc, đó là một chuyện. Nhưng cảm giác rằng với tư cách là người bảo quản một nhạc cụ đã tồn tại hàng trăm năm, bạn đã thất bại – đó là một vết sẹo trong tâm hồn bạn trong suốt quãng đời còn lại”.
Vào cuối những năm 1990, Harrell từng phải trải qua các cuộc phẫu thuật của cả hai bàn tay, dẫn đến việc ông phải giảm dần các buổi biểu diễn, tập trung nhiều hơn vào công tác giảng dạy. Tháng 6/2010, Harrell và vợ, nghệ sĩ violin Helen Nightengale đã thành lập HeartBeats Foundation có trụ sở tại Los Angeles với mục đích “nỗ lực giúp trẻ em có nhu cầu khai thác sức mạnh của âm nhạc để đối phó tốt hơn và phục hồi sau những thách thức cực đoan của đói nghèo và xung đột, với hy vọng tạo ra một thế giới hòa bình và bền vững hơn cho các thế hệ mai sau”. Harrell qua đời ở tuổi 76 vì bệnh tim tại nhà riêng ở Santa Monica, California vào ngày 27/4/2020. Nhạc trưởng Leonard Slatkin, một người bạn lâu của Harrell đã tiếc thương: “Gấu lớn của cây đàn cello đã ra đi. Đã từng có một nghệ sĩ nào dễ mến như vậy chưa? Chưa bao giờ phải làm việc với Lynn, nụ cười đó luôn luôn cho bạn biết rằng anh ấy với âm nhạc hoà làm một và háo hức hợp tác với bạn, dù ở bất kỳ nơi đâu”.
Trải qua một sự nghiệp kéo dài gần 60 năm với nhiều vị trí khác nhau, từ một nhạc công trong dàn nhạc cho đến một nghệ sĩ độc tấu, thành viên của nhóm nhạc thính phòng hay thầy giáo, Harrell luôn cống hiến hết mình, tạo lập được nhiều thành tựu đáng ngưỡng mộ và trở thành một trong những nghệ sĩ cello đáng chú ý nhất của Mĩ và thế giới trong khoảng 30 cuối thế kỉ 20.
Cobeo tổng hợp





