“Giọng hát của cậu ấy có một sức mạnh anh hùng, nhưng cũng tràn đầy vẻ đẹp trong âm sắc; nó u tối trong tính gợi cảm, sầu muộn một cách bí ẩn, nhưng trên tất cả đó là một giọng hát có sấm và chớp, có lửa và máu.” – Herbert von Karajan
“Nếu bạn muốn giúp tôi một việc, hãy viết rằng tôi không phải là một tenor kịch tính hay trữ tình: Tôi là một giọng hát”. Không từ nào có thể mô tả Franco Corelli trọn vẹn bằng chính lời của ông, được nói ra trong một cuộc phỏng vấn báo chí năm 1970, vào thời điểm Corelli đang ở đỉnh cao của sự nghiệp. Sự thu hút trong giọng hát của Franco Corelli không chỉ ở vẻ đẹp tuyệt vời cũng như ở âm vực hiếm có mà còn là sự mạnh mẽ, bùng nổ đầy sự kích thích và lôi cuốn. Với vẻ bề ngoài đẹp trai như một tài tử điện ảnh, Franco Corelli là hiện thân của hình tượng tenor anh hùng trong các vở opera Ý như Calaf, Radamès, Andrea Chénier hay Manrico. Hiếm có ca sĩ nào có thể hoàn toàn đắm chìm và tận tụy với giọng hát của họ và với những cảm xúc mà họ có thể tạo ra bằng cách đặt “trái tim” của mình vào từng nốt nhạc như ông. Sở hữu một giọng tenor quyến rũ, hoang dã và truyền cảm mãnh liệt, sự nghiệp của ông không dài, Corelli chinh phục các nhà hát lớn chỉ trong khoảng 15 năm từ giữa những năm 1950 cho đến đầu những năm 1970 và rút lui khi vẫn đang ngự trị ở đỉnh vinh quang. Không phải những gì ông trình diễn đều được tán thành, nhất là từ phía giới phê bình nhưng với khán giả, Corelli luôn mang tới sự hưng phấn tuyệt vời mà hiếm một ca sĩ nào làm được. Ông đã tạo nên một hiện tượng thật sự trên sân khấu opera. Corelli không chỉ là một giọng hát – ông là đại diện cho một ngọn lửa luôn bùng cháy dữ dội trên sân khấu. Đối với nhiều công chúng say mê opera, ông là duy nhất!
Dario Franco Corelli sinh ngày 8/4/1921 tại Ancona, thành phố biển miền trung nước Ý. Cả gia đình Franco đều yêu thích opera. Ông nội là một tenor, hai người chú ruột đều hát trong dàn hợp xướng còn cha cậu, Remo là một kỹ sư của hải quân Ý và mẹ, bà Natalina đều là ca sĩ nghiệp dư. Sinh sống ngay gần biển nên không có gì ngạc nhiên khi Franco bơi rất giỏi, điều này cũng giúp cho giọng tenor vĩ đại sau này có một luồng hơi dài gần như bất tận, giúp Corelli có thể ngân vang những nốt cao đến khi nào ông muốn. Trên thực tế, Franco không hề có ý định trở thành ca sĩ mà muốn nối nghiệp cha mình. Cậu đã theo học trường hải quân ở Bologna, chuyên ngành kỹ thuật. Năm 1939, Franco tốt nghiệp và có một khoảng thời gian nhập ngũ. Năm 1942, anh trở về quê nhà, làm việc tại Toà thị chính Ancona. Cũng giống như cha mẹ mình, Franco bắt đầu trở thành ca sĩ nghiệp dư khi sinh hoạt văn hóa tại “Casino Dorico” – một câu lạc bộ nghệ thuật do nhà hát Teatro delle Muse tổ chức. Corelli nhớ lại: “Tôi bắt đầu hát để giải trí. Với một người bạn, tôi đã nghe các bản thu âm và hát hàng giờ liền, và đó là cách tôi yêu ca hát”. Quyết định đến Rome của anh trai Franco, Ubaldo, bất chấp sự phản đối của ông Remo, để học hát tại Accademia di Santa Cecilia, không thể không có một ảnh hưởng nhất định đến chàng trai trẻ.
Năm 1946, dưới sự khuyến khích của người bạn thân Carlo Scaravelli – một baritone nghiệp dư – Corelli bắt đầu tham gia hợp xướng Corale Bellini tại quê nhà Ancona, hát giọng baritone. Tuy nhiên, giọng hát mạnh mẽ nhưng thô mộc và khó kiểm soát của anh không được Augusto Gambelli, chỉ huy dàn hợp xướng đánh giá cao. Corelli sau đó có thời gian theo học tại Nhạc viện Gioachino Rossini ở Pesaro, nơi anh nhận vài lời hướng dẫn từ Rita Pavoni. Dù vậy, chỉ sau ba tháng, anh sớm cảm thấy thất vọng với phương pháp giảng dạy và cho rằng những bài học này đã phá huỷ các nốt cao của mình. Anh rất buồn, chán nản và đành tạm hài lòng học các vai baritone dù rằng mơ ước là được trở thành tenor. Có lẽ đây là lý do mà nhiều năm sau, Corelli vẫn không ngừng chỉ trích và coi các giảng viên thanh nhạc là “những kẻ nguy hiểm” và “tai họa đối với ca sĩ”. Từ năm 1948, dưới sự giới thiệu của Scaravelli, Corelli tiếp xúc với Arturo Melocchi – người từng đào tạo Mario del Monaco và nổi tiếng với phương pháp hạ thấp thanh quản. Corelli không trực tiếp theo học với Melocchi mà chỉ tham khảo phương pháp của ông. Corelli đã trở thành giáo viên của chính mình, tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọ ra những gì mà anh cảm thấy phù hợp với mình nhất. Nghiên cứu kỹ del Monaco cũng như một số học trò khác của Melocchi, Corelli nhận thấy khả năng hát mezza-voce và xử lý legato của họ có nhiều hạn chế. Việc tích cực nghe các đĩa nhạc của Enrico Caruso, Beniamino Gigli hay Giacomo Lauri-Volpi đã tìm ra hướng đi cho anh. Corelli cho biết: “Chỉ sau vài tháng, tôi tìm lại được sự tự do trong giọng hát và những nốt cao của mình” .
Mùa hè năm 1951, Corelli đã chiến thắng tại liên hoan âm nhạc Maggio Musicale Fiorentino và với sự giúp đỡ của nhạc trưởng Ottavio Ziino, anh có buổi biểu diễn opera đầu tiên trong sự nghiệp của mình tại Spoleto vào tháng 8/1951. Corelli hát Don José (Carmen, Georges Bizet) mà anh tự đánh giá rằng có thể “diễn bằng sự bùng nổ bản năng” và những lời tán thưởng sau đó đã nâng đẳng cấp của Corelli lên ngay lập tức. Chỉ một thời gian ngắn sau, vào tháng 1/1952, anh có 3 buổi biểu diễn trong Giulietta e Romeo (Riccardo Zandonai) tại Teatro dell’Opera, Roma nơi anh trở lại bốn tháng sau đó trong Adriana Lecouvreur (Francesco Cilea). Các buổi biểu diễn của Corelli hết sức hấp dẫn khiến ban giám đốc của Teatro dell’Opera đã ký một hợp đồng lâu dài với anh. Anh cũng biểu diễn Carmen tại Castello di San Giusto, Trieste; San Remo; Turin, tất cả đều cùng với Giulietta Simonatto. Corelli nhanh chóng nhận được sự thừa nhận khi anh hát trong Boris Godunov, bấy giờ là vở diễn chủ lực của Teatro dell’Opera cùng với Boris Christoff vào tháng 12/1952. Tháng 3/1953, anh hát trong buổi công diễn ra mắt trên phạm vi toàn thế giới thế giới vở opera Enea của Guido Guerrini cùng với Antonietta Stella và Christoff. Tháng 4, Corelli lần đầu hát cùng Maria Callas, trong Norma (Vincenzo Bellini). Callas không hề giấu giếm sự ngưỡng mộ dành cho người bạn diễn của mình. Họ còn hợp tác với nhau nhiều năm sau đó, cho đến khi Callas kết thúc sự nghiệp của mình trong đó có những vở opera rất ít được biểu diễn, nhưng dưới tài năng của họ đã được phục dựng như Il Pirata (Bellini) hay Poliuto (Donizetti) – được đánh giá là một trong những thành tựu tuyệt vời nhất của Corelli.
Anh có màn ra mắt tại La Scala vào ngày 7/12/1954 trong La Vestale (Gaspare Spontini) bên cạnh Callas. Buổi biểu diễn được đánh giá rất cao và Corelli được phong tặng biệt danh “Sputnik tenor” vì sự nổi tiếng của anh đã lan đi nhanh chóng trên khắp nước Ý. Corelli cũng nhanh chóng tạo dựng được danh tiếng quốc tế cho mình. Chỉ trong vòng hai tháng, anh ra mắt tại hai trong số những nhà hát opera danh tiếng nhất thế giới. Ngày 5/5/1957, Corelli hát trong Radamès (Aida, Giuseppe Verdi) tại Vienna State Opera và ngày 27/6/1957 là Cavaradossi (Tosca, Giacomo Puccini) với Zinka Milanov trong vai chính tại Covent Garden. Một bản thu âm lậu đêm diễn này đã cho thấy những gì là mạnh mẽ nhất trong giọng hát của Corelli: kéo dài các nốt cao bằng toàn bộ nội lực. Trong nốt cao thuộc trích đoạn “Vittoria!” của màn II, ông đã ngân vang suốt 12 giây, khiến khán phòng bùng nổ tiếng hò reo dù âm nhạc vẫn đang tiếp diễn. Cũng trong năm 1957 này, Corelli đã gặp soprano Loretta di Lelio tại hậu trường của Teatro dell’Opera khi cô đến xin chữ ký của anh. Một năm sau, họ kết hôn và Loretta đã từ bỏ sự nghiệp còn non trẻ của mình để trở thành người đại diện cho chồng mình.
Ngày 27/1/1961, hai giọng ca mà sau này sẽ trở thành những ngôi sao opera toả sáng rực rỡ nhất đã có màn ra mắt tại Metropolitan Opera. Corelli và Leontyne Price đã hát trong Il Trovatore (Verdi). Đây là đêm diễn nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày mất của nhà soạn nhạc. Các lời tung hô tràn ngập nhà hát tới gần một giờ sau khi buổi biểu diễn kết thúc. Tuy nhiên, các nhà phê bình thì dè dặt hơn, Harold C. Schonberg nhận xét giọng hát quy mô lớn của Corelli được “phát ra một cách bùng nổ” và mang “một sức mạnh bản năng đầy kích động” đồng thời cảnh báo rằng tenor lãng tử này vẫn chưa phải là “một công cụ mượt mà đặc biệt”, và rằng “nghệ thuật của anh còn cần được gọt giũa và tinh luyện thêm”. Bất chấp những điều đó, Corelli đã thực sự chinh phục khán giả Mỹ trong suốt mùa diễn đó với các vở Andrea Chénier (Umberto Giordano) và Turandot (Puccini), tác phẩm đã vắng bóng trên sân khấu này suốt gần 30 năm. Với vai Calaf, Corelli là tenor duy nhất có thể sánh ngang sức mạnh với Birgit Nilsson trong Turandot. Nilsson vẫn thường kể lại buổi diễn ngày 19/4/1961 khi họ lưu diễn cùng Metropolitan Opera ở Boston: trong phần kết của In questa reggia Nilsson giữ nốt Đô cao lâu hơn Corelli, khiến ông bực tức đến mức ở màn III, thay vì hôn vào má như thường lệ, ông… cắn vào cổ bà. Sau buổi diễn, Nilsson nói đùa với Rudolf Bing (Tổng giám đốc của nhà hát) rằng bà không thể tiếp tục đến Cleveland vì “bị một tenor cắn và mắc bệnh dại”. Dù có nhiều người chứng kiến, Corelli luôn phủ nhận chuyện đó xảy ra. Ngày 28/5/1962, Corelli khiến những người say mê opera của La Scala bất ngờ khi hát thật tuyệt vời trong Gli Ugonotti (phiên bản tiếng Ý của Les Huguenots, Giacomo Meyerbeer) bên cạnh Joan Sutherland, Fiorenza Cossotto, Nicolai Ghiarurov và Simionato, vai diễn có lẽ là khó nhất trong kịch mục của ông với nhiều nốt cao với màu âm sáng và nhẹ nhàng, duy trì liên tục trong toàn bộ vở opera dài khoảng bốn tiếng, nhiều nốt nhạc luyến láy đòi hỏi sự linh hoạt nhưng vẫn yêu cầu sức mạnh. Trước khi vở diễn này được dàn dựng, nhạc trưởng Gianandrea Gavazzeni không cho rằng Corelli là lựa chọn phù hợp, tuy nhiên sau khi nghe Corelli hát thử, Gavazzeni đã thốt lên: “Tôi không bao giờ dám mơ rằng cậu ấy lại có thể hát vai này hay như vậy”. Với Il Trovatore, Corelli đã có lần đầu tiên hợp tác cùng Herbert von Karajan vào mùa hè năm 1962 tại liên hoan Salzburg và giành được thành công vang dội.
Vào thời điểm này, Corelli đã trở thành một trong những tenor xuất sắc nhất thế giới, bất chấp sự cạnh tranh dữ dội đến từ những ca sĩ đồng hương như del Monaco, Giuseppe di Stefano hay Carlo Bergonzi. Ông sở hữu một giọng tenor khoẻ khoắn với âm sắc của trumpet có thể thâm nhập vào mọi ngóc ngách của những nhà hát hoành tráng nhất. Đó là công suất phát ra từ một chiếc động cơ Rolls-Royce, tạo ra sự phấn khích từ nội tâm của khán giả. Dù rằng sức mạnh thể chất tuyệt vời là đặc điểm nổi bật nhất, Corelli vẫn có thể hát với cảm xúc tinh tế và những nốt pianissimo dịu dàng. Tuy nhiên, chính sự rực lửa và bùng nổ cảm xúc của ông cũng tạo ra những chỉ trích. Alan Rich chỉ trích trên The New York Herald Tribune rằng những những diễn giải của Corelli quá mang tính cá nhân: “Anh ta không được opera thuê mướn. Chính anh ta thuê opera để phục vụ những mục đích mà nó không sinh ra để phục vụ”. Nhưng cũng không hề thiếu những lời bênh vực như Harold C. Schonberg viết trên New York Times trong một buổi biểu diễn Tosca của ông vào ngày 19/3/1965 tại Metropolitan Opera nhân dịp sự trở lại của Callas. Schonberg nhận xét giọng hát của Corelli “vang lên đầy vinh quang khắp khán phòng” và dù Corelli có tự do biểu cảm quá mức: “buổi diễn vẫn có logic riêng của nó”.
Metropolitan Opera trở thành nhà hát quen thuộc của Corelli, là nơi để ông phô diễn tài năng của mình với 19 vai trong nhiều tác phẩm của Ý và Pháp. Ông gắn bó với nơi đây trong 15 mùa diễn với tổng cộng 365 đêm. Trên thực tế, khả năng nhả chữ tiếng Pháp của Corelli bị chê bai khá nhiều vì thiếu duyên dáng nhưng điều đó không thể che khuất những cảm xúc và sự hấp dẫn mà ông mang lại. Với thân hình cao to, vạm vỡ (cao 1m85, nặng gần 90kg) và một vẻ ngoài đẹp trai như tài tử điện ảnh, khi ông sống trong các vai diễn của mình, đó là một sức hút không thể cưỡng lại. Bên cạnh đó, Corelli rất có ý thức trong việc giữ gìn giọng hát của mình. ông không hút thuốc, không uống rượu. Ông từng chia sẻ: “Tôi nhìn thấy những nốt nhạc trong giấc mơ. Tôi không bao giờ nghỉ ngơi, vì tôi luôn cố gắng hoàn thiện bản thân. Nếu tôi có ba tháng hoàn toàn rảnh rỗi, tôi sẽ dùng khoảng thời gian đó để bảo vệ nhạc cụ kỹ thuật của mình – vì không có nó, tôi chẳng là gì cả”. Ông yêu cưỡi ngựa, chơi tennis, bơi lội, trượt tuyết, có thói quen sưu tầm máy ảnh và những chiếc xe hơi sang trọng. Corelli còn được biết tới là người có tính khí rất nóng nảy. Trong một lần hát Il Trovatore tại Naples, ông bị một khán giả ở trên cao la ó. Corelli chạy vào hậu trường, leo ba tầng gác đến tận lô ghế đó và khi thấy cửa bị khóa, ông dùng vai húc vỡ cửa. Trong trang phục Manrico, với kiếm bên người, ông xông vào vị khán giả trẻ nhưng bị hai nhân viên chặn lại. Corelli giận dữ đến mức mất tiếng trong vòng 20 phút, nhưng vẫn kịp quay lại sân khấu và thể hiện xuất sắc “Di quella pira”. Ông cũng luôn có tâm trạng lo lắng trước khi biểu diễn và để giảm bớt áp lực, Corelli thường ăn steak tartare (thịt bò sống trộn với nước sốt và một số loại gia vị) vắt nhiều chanh và phủ đầy tỏi sống – bất kể soprano hát cặp sẽ phải đối mặt với điều gì trong những màn song ca đầy tình cảm.
Khi đã gần 50 tuổi, bỗng nhiên trong Corelli xuất hiện cảm giác sợ sân khấu, ông bắt đầu huỷ các buổi biểu diễn ngày càng nhiều, thậm chí có lần vào những phút cuối cùng và thường xuyên lên hát trong trạng thái thần kinh bị kích động. Trên thực tế, Plácido Domingo có được buổi ra mắt của mình tại Metropolitan Opera vào ngày 28/9/1968 là do Corelli rút lui khỏi vai Adriana Lecouvreur. Lời xin lỗi được đưa ra là do khản giọng. Ngày 11/1/1971, ông hát trong Lucia di Lammermoor (Donizetti) cùng với Roberta Peters và khán giả phải chứng kiến Corelli vật lộn với giọng hát của mình và hoàn toàn không thoải mái với vai diễn. Đó có lẽ là buổi biểu diễn tồi tệ nhất của Corelli. Buổi biểu diễn tiếp theo vào ngày 21/1 ông hát tốt hơn nhưng lại bỏ dở khi mới kết thúc màn I và được thay thế bằng John Alexander bất chấp việc giữa hai buổi trên ông vẫn rất xuất sắc trong Andrea Chénier (14/1) và Ernani (16/1). Không còn nghi ngờ gì nữa, giọng hát của Corelli trở nên dữ dội và thô ráp hơn theo thời gian và sau thất bại của Lucia de Lammermoor là một loạt các buổi biểu diễn thành công với các vai kịch tính hơn, ví dụ như trong Carmen hay Don Carlo (Verdi). Nhưng ông đã giành được chiến thắng vang dội khi lần đầu ra mắt trong Werther tại Metropolitan Opera cùng Christa Ludwig vào ngày 27/2/1971, tất cả các buổi biểu diễn sau đó đều hết vé. Bing, người đã khuyên Corelli đến với các vở opera lãng mạn của Pháp đã không tỏ ra quá xúc động như những người hâm mộ vì ông đã được nghe Corelli hát trong Roméo et Juliette (Charles Gounod) vào mùa thu năm 1967. Corelli chia tay Metropolitan Opera với Rodolfo (La Bohème, Puccini) vào ngày 28/6/1975. Tuy nhiên nhiều người vẫn trông chờ ông vào một vai diễn mới: trong đêm Gala chia tay Bing nghỉ hưu vào ngày 22/4/1972, Corelli và Teresa Zylis-Gara đã song ca “Già nella notte densa” trích từ Otello (Verdi), vai diễn được rất nhiều khán giả đánh giá là vô cùng với giọng hát mạnh mẽ, bùng cháy và đầy nhiệt huyết của ông. Nhưng sự chờ mong của mọi người đã không trở thành hiện thực. Đã có nhiều lí do được đưa ra cho sự việc đáng tiếc này. Otello được coi là một trong những đỉnh Everest dành cho tenor và Corelli có chút rụt rè khi phải đảm nhận một vai khó như vậy. Ngoài ra còn có những suy nghĩ cho rằng Corelli lo ngại sẽ không vượt qua được del Monaco, người vốn có một số mâu thuẫn với ông và là một tượng đài trong Otello. Sau này, chính Corelli thừa nhận việc từ chối Otello là một trong những tiếc nuối lớn nhất trong sự nghiệp của mình.
Corelli giảm dần các buổi biểu diễn opera của mình trong thập niên 70 và chính thức nghỉ hưu vào năm 1976 trong La Bohème ở Torre del Lago. Ông chỉ trở lại sân khấu vào một vài dịp thực sự đặc biệt. Lần cuối cùng khán giả được gặp Corelli là trong đêm diễn vinh danh Nilsson vào tháng 11/1981 tại Stockholm. Với toàn bộ giới âm nhạc, đó là một kết thúc quá sớm, giọng hát của ông vẫn còn tuyệt đẹp, chỉ có một chút suy giảm nhẹ. Trong bài trả lời phỏng vấn Opera News vào năm 1996, Corelli giải thích: “Tôi cảm thấy giọng mình đã có chút mệt mỏi, hơi đục, kém rực rỡ hơn trước. Cuộc sống của một ca sĩ đã khiến tôi kiệt quệ. Tôi đầy lo âu, giận dữ với mọi thứ. Tôi là một bó dây thần kinh rối rắm, không ăn, không ngủ được”. Sau khi giã từ ca hát, Corelli trở thành giảng viên thanh nhạc tại New York, một điều khá trớ trêu với người luôn coi thường những thầy giáo của mình. Sự nghiệp của Corelli có lẽ là một trường hợp cá biệt, ông khởi đầu với các vai nặng và sau này là các vai trữ tình hơn, trái ngược với đa số các tenor khác. Từ những người hùng, chiến binh, ông dần dần trở thành người tình và nhà thơ, lãng mạn và ngọt ngào hơn.
Ngày 23/10/2003, Franco Corelli, một trong những giọng tenor vĩ đại nhất thế kỷ 20 qua đời tại Milan ở tuổi 82 vì đột quỵ. “Dây thanh quản bằng thép” như lời Luciano Pavarotti nhận xét đã vĩnh viễn ra đi. Theo Tony Russo, cựu quản lý của ông, Corelli đã mắc bệnh tim trong thời gian dài. Di hài ông được chôn cất tại nghĩa trang Monumentale, Milan. Nhà phê bình âm nhạc Lorenzo Arruga trong bài viết chia buồn của mình đã nhắc lại lời nhận xét trước đó của ông vào năm 1962: “Một bài học, một sự táo bạo, một điều kỳ diệu”! Đó cũng có thể được coi là sự khái quát toàn bộ sự nghiệp vĩ đại của Corelli. Một bài học, theo nghĩa kỹ thuật, bởi vì có lẽ chưa ai từng dành nhiều thời gian, đam mê và sự bền bỉ đến thế cho việc nghiên cứu và hoàn thiện khả năng kiểm soát giọng hát của mình như Corelli. Một sự táo bạo, bởi vì ông đã có dũng khí – một điều hiếm thấy ở một tenor với kịch mục như ông – để thách thức và chinh phục không chỉ những nốt cao hiểm hóc nhất và những đoạn nhạc căng thẳng nhất, mà còn cả những đoạn diminuendo ngọt ngào, mờ ảo nhất, nhẹ dần xuống đến piano và pianissimo. Một điều kỳ diệu, bởi vì khi đặt sự hoàn hảo kỹ thuật ấy phục vụ cho thứ mà ông gọi là “con tim” của mình, ông có thể tạo nên phép màu – một loại bùa chú cảm xúc thuần khiết, không pha tạp, khiến khán giả như bị mê hoặc. Trong một cuộc phỏng vấn, khi được đánh giá về toàn bộ sự nghiệp của mình, với bản tính kín đáo, Corelli không khoe khoang về những phẩm chất tốt đẹp của mình mà chỉ giới hạn bản thân cho rằng mình đã rất may mắn. Ông coi giọng hát của mình là một món quà từ trời cao, thứ phải được sử dụng với sự chính trực, khiêm tốn, cam kết và tôn trọng âm nhạc, với bản thân và khán giả.
Cobeo






