Thông tin chung
Tác giả: Pyotr Ilyich Tchaikovsky.
Thời gian sáng tác: Có tất cả ba phiên bản. Phiên bản đầu tiên (1869), phiên bản thứ hai (1870) và phiên bản thứ ba, được biểu diễn nhiều nhất ngày nay được hoàn thành vào tháng 8/1880.
Công diễn lần đầu: Phiên bản đầu tiên (16/3/1870 tại Moscow), phiên bản thứ hai (17/2/1872 tại Saint Petersburg), phiên bản thứ ba (1/5/1886 tại Tbilisi, Georgia dưới sự chỉ huy của Mikhail Ippolitov-Ivanov và Russian Musical Society)
Độ dài: Phiên bản đầu tiên khoảng 16 phút, hai phiên bản sau khoảng 20 phút.
Đề tặng: Dành tặng Mily Balakirev.
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 2 flute, 2 oboe, English horn, 2 clarinet (giọng La), 2 bassoon, 4 horn (giọng Pha), 2 trumpet (giọng Mi), 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, cymbals, harp và dàn dây.
Hoàn cảnh sáng tác
Lần đầu tiên Tchaikovsky gặp gỡ Balakirev là vào mùa hè năm 1869 ở Moscow. Tchaikovsky đã dành tặng Balakirev bản thơ giao hưởng mới nhất của mình Fatum (Định mệnh) và mong muốn tác phẩm sẽ được Balakirev chỉ huy tại Saint Petersburg. Tchaikovsky đã miêu tả đó là “tác phẩm hay nhất của mình cho đến nay”. Tuy nhiên, Balakirev tỏ ra rất gay gắt với tác phẩm. Ông viết thư cho Tchaikovsky: “Fatum đã được biểu diễn, được đón nhận một cách vừa phải… không có nhiều tiếng vỗ tay, có lẽ do những âm điệu chói tai làm kinh hoàng ở cuối tác phẩm, mà tôi không thích một chút nào. Nó không được phát triển đúng đắn, và dường như được viết theo một cách bừa bãi. Các vết nối đã trưng ra, cũng như tất cả các đường khâu vụng về của anh. Trên hết, bản thân hình thức không hoạt động. Toàn bộ nó không có sự khớp nối… Tôi viết thư cho anh với sự hoàn toàn thẳng thắn, bị thuyết phục một cách trọn vẹn rằng anh sẽ không quay lại với ý tưởng dành tặng tác phẩm cho tôi. Lời đề tặng của anh là đáng quý như một dấu hiệu cho thấy sự đồng cảm – và tôi cảm thấy rằng anh có một điểm yếu lớn”.
Sự tự phê bình của Tchaikovsky khiến ông chấp nhận toàn bộ lời chê trách của Balakirev và hai người tiếp tục giữ mối quan hệ (Tchaikovsky sau đó đã phá huỷ tổng phổ của Fatum và tác phẩm chỉ được dựng lại sau đó dựa trên các phân phổ). Balakirev đã đề nghị Tchaikovsky viết một tác phẩm dựa trên Romeo and Juliet (Romeo và Juliet) của William Shakespeare. Nhìn lại thế kỷ 19, hầu hết những nhà soạn nhạc quan trọng, từ Hector Berlioz đến Giuseppe Verdi, đều bị vẻ đẹp vượt thời gian trong những tác phẩm của Shakespeare mê hoặc. Trên thực tế, đó là một đặc điểm chính trong chủ nghĩa Lãng mạn với tư cách một trào lưu nghệ thuật luôn muốn đào sâu những tác phẩm nói về thân phận con người. Balakirev đã làm như vậy với overture “Vua Lear” vào năm 1857 và giờ đây đã giới thiệu một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất của Shakespeare cho Tchaikovsky. Ban đầu, Tchaikovsky đã từ chối “tôi đã hoàn toàn kiệt sức”. Tuy nhiên, Balakirev, như phong cách quen thuộc của mình, đã gửi cho Tchaikovsky gợi ý của mình về tác phẩm, đưa ra một dàn bài chi tiết cụ thể cho từng phần, thậm chí còn ghi rõ ý kiến về việc sử dụng giọng điệu nào. Balakirev đã lấy chính overture “Vua Lear” của mình ra là ví dụ cho Tchaikovsky vì ông nhận ra điểm yếu của Tchaikovsky trong việc thể hiện âm nhạc không có cấu trúc rõ ràng. “Vua Lear” không phải là một bản thơ giao hưởng theo phong cách của Franz Liszt mà là một overture bi kịch, được dựa theo các tác phẩm cùng thể loại của Ludwig van Beethoven, dựa nhiều hơn vào tiềm năng kịch tính của hình thức sonata thay vì chạy theo một chương trình văn học. Cuối cùng Tchaikovsky đã nhận lời, ông quyết định Romeo và Juliet sẽ được tinh giản thành một xung đột trung tâm và kết hợp với cấu trúc nhị phân của hình thức sonata.
Tchaikovsky bắt đầu làm việc với Romeo và Juliet vào cuối tháng 10/1869. Trong quá trình sáng tác, Tchaikovsky liên tục gửi thư cho Balakirev và nhận về những phản hồi. Balakirev đã gạt bỏ phần lớn những ý tưởng của Tchaikovsky. Tuy nhiên, không phải đề xuất nào của Balakirev cũng được Tchaikovsky chấp nhận. Tchaikovsky trả lời: “Bố cục là của anh. Phần giới thiệu miêu tả chân dung thầy dòng, cuộc chiến – Allegro, tình yêu – chủ đề hai và thứ hai: sự chuyển giọng là của anh: phần giới thiệu Mi trưởng, Allegro Si giáng thứ và chủ đề hai Rê giáng trưởng. Anh có thể chỉ trích chúng. Tất cả những gì anh muốn. Tôi sẽ ghi nhận những gì anh nói và cố gắng thực hiện tốt hơn trong tác phẩm tiếp theo”. Tchaikovsky đã mở đầu tác phẩm bằng một fugue nhằm mô tả cuộc đối đấu giữa Capulet và Montague. Tchaikovsky đã dành tặng tác phẩm cho Balakirev, đặt tên cho nó là Overture “Romeo và Juliet” và hoàn thành vào ngày 30/11/1869. Buổi ra mắt tác phẩm diễn ra vào ngày 16/3/1870 bị chìm khuất với vụ tai tiếng của Nikolai Rubinstein, nhạc trưởng trong chương trình với một nữ sinh, được toà án tuyên vào ngay ngày hôm trước. Điều này đã gây ra một vụ biểu tình khi Rubinstein bước lên bục chỉ huy, dẫn đến việc Romeo và Juliet hoàn toàn bị chìm khuất.
Thất bại của chương trình đã khiến Tchaikovsky suy nghĩ nghiêm túc hơn về những ý tưởng của Balakirev. Tchaikovsky đã sửa chữa lại phần lớn tác phẩm, trong đó đáng chú ý có việc loại bỏ chủ đề tình yêu ra khỏi phần phát triển, để dành cuộc đối đầu của nó với chủ đề đầu tiên (tượng trưng cho sự xung đột giữa hai dòng họ Capulet và Montague) cho nửa sau của phần tái hiện. Trong phần giới thiệu, chủ đề tình yêu sẽ được chủ đề xung đột che chắn khỏi tính bạo lực. Trong phần tái hiện, chủ đề xung đột tác động mạnh mẽ đến chủ đề đầu tiên và cuối cùng phá huỷ nó. Bằng cách này, Tchaikovsky đã chuyển trung tâm kịch tính của tác phẩm từ phần phát triển sang phần tái hiện, đẩy nó lên đỉnh điểm trong một cao trào thảm hoạ. Rubinstein tỏ ra ấn tượng với phiên bản sửa đổi này và đã giúp Tchaikovsky có thể xuất bản tác phẩm ngay sau khi hoàn thành, do Bote and Bock thực hiện. Đây được coi là một thành tựu vì khi đó, tên tuổi của Tchaikovsky chưa được biết đến nhiều ở Đức. Tuy nhiên, Balakirev không hài lòng với điều này. Ông viết thư cho Tchaikovsky: “Thật đáng tiếc khi anh, hay đúng hơn là Rubinstein, đã vội vàng xuất bản Overture. Mặc dù phần giới thiệu là một cải tiến đã được khẳng định, nhưng tôi muốn anh thực hiện những thay đổi khác. Tôi đã hy vọng rằng vì lợi ích của các sáng tác trong tương lai của anh, tác phẩm này này sẽ ở trong tay anh lâu hơn”. Phiên bản thứ hai này đã được công diễn lần đầu vào ngày 17/2/1872 tại Saint Petersburg dưới sự chỉ huy của Eduard Nápravník.
Phải đến 10 năm sau, Tchaikovsky mới quay trở lại sửa chữa Romeo và Juliet lần cuối. Tháng 8/1880, tại Kamenka, ông đã thay đổi 80 ô nhịp cuối cùng của tác phẩm, trong đó viết lại 34 ô nhịp, phần coda được cấu trúc lại, trong đó loại bỏ đi một đoạn chen ở giọng Mi giáng trưởng, hoàn thành vào ngày 10/9/1880. Ông chính thức đặt tên cho tác phẩm là Overture-Fantasia “Romeo và Juliet”. Phiên bản này đã được Mikhail Ippolitov-Ivanov và Russian Musical Society chỉ huy lần đầu tại Tbilisi, Georgia (lúc này là một phần của đế chế Nga) vào ngày 1/6/1886 nhằm vinh danh Tchaikovsky khi ông đến thăm Tbilisi và trở thành phiên bản được biểu diễn nhiều nhất ngày nay, trong khi hai phiên bản trước đó dường như đã chìm vào quên lãng.
Phân tích
Overture-Fantasia “Romeo và Juliet” về thiết kế tổng thể là một bản thơ giao hưởng có hình thức sonata-allegro. Tác phẩm dựa trên ba mạch câu chuyện chính trong tác phẩm gốc của Shakespeare. Overture mở đầu với một phần giới thiệu dài, trang trọng trên clarinet và bassoon ở giọng Pha thăng thứ, tượng trưng cho sự thánh thiện của thầy dòng Lawrence. Một hợp âm Si thứ nghịch đảo vang lên, được chuyển đổi qua lại giữa dàn dây và kèn gỗ chuyển đến mạch câu chuyện thứ hai của tác phẩm, Allegro giusto, tàn bạo và căng thẳng, đại diện cho cuộc chiến đấu giữa hai dòng họ, bao gồm cả cuộc đấu kiếm, được đại diện bằng tiếng cymbals. Những nốt móc kép kích động. Nhịp điệu mạnh mẽ một cách bất thường. Và rồi mọi thứ lắng lại, âm nhạc chuyển giọng từ Si thứ sang Rê giáng trưởng và chúng ta nghe thấy những ô nhịp đầu tiên của mạch câu chuyện cuối cùng: chủ đề tình yêu đầy đam mê và khao khát nhưng vẫn tiềm ẩn sự lo âu nhất định trên English horn và viola chơi tắt tiếng.
Cảnh chiến đấu xuất hiện trở lại, lần này với cường độ cao và mạnh mẽ hơn, chủ đề Lawrence trở nên kích động. Dàn dây bắt đầu một giai điệu bay bổng, tươi vui, trên đó, flute và oboe mang tới chủ đề tình yêu, lần này lớn hơn và ở giọng Rê trưởng, báo hiệu phần phát triển của tác phẩm và tượng trưng cho cuộc động phòng của họ. Âm nhạc chuyển giọng sang Mi trưởng, tiếng cymbals vang lên, đôi tình nhân đã tự tử. Chủ đề trận chiến nổi lên lần cuối cùng, rồi trở nên nhẹ nhàng, chậm rãi ở giọng Si trưởng với timpani lặp lại các chùm ba và tuba giữ một nốt Si qua 16 ô nhịp. Kèn gỗ tưởng nhớ ngọt ngào về đôi tình nhân và sự ám chỉ cuối cùng đến chủ đề tình yêu mang đến một cao trào, có lẽ để ngụ ý rằng mặc dù Romeo và Juliet không còn nữa nhưng tình yêu của họ đã vượt qua cái chết, bắt đầu những nốt Si cuộn lên crescendo của timpani và dàn nhạc chơi đồng âm hợp âm Si trưởng trước ô nhịp cuối cùng và rồi khép lại tác phẩm trong một nốt Si mạnh mẽ.
Romeo và Juliet là một sáng tạo độc đáo của Tchaikovsky, không chỉ vì nó là bản nhạc nổi tiếng nhưng không hiểu vì lý do tại sao lại không được đánh số Op mà còn vì vẻ đẹp nội tại của nó. Ngày nay, Romeo và Juliet đã trở thành một trong những tác phẩm đáng chú ý và thường xuyên được biểu diễn nhất của nhà soạn nhạc. Nó bao gồm tất cả những gì tinh hoa nhất của Tchaikovsky: âm nhạc giàu hình ảnh, hoà thanh phong phú, giai điệu đẹp đến nao lòng, một kiệt tác thực sự. Sau này, Tchaikovsky còn tiếp tục tìm kiếm nguồn cảm hứng của mình trong các tác phẩm của Shakespeare với The Tempest và Hamlet.
Cobeo



