“Tôi tin rằng sự chứng minh của nghệ thuật là ngọn lửa nội tại bùng cháy trong trái tim của con người chứ không phải những biểu hiện nông cạn, bề ngoài, công khai của nó. Mục đích của nghệ thuật không phải là giải phóng adrenalin trong chốc lát mà là sự xây dựng dần dần, suốt đời của một trạng thái kì diệu và thanh bình.” – Glenn Gould
Khi Glenn Gould qua đời vào năm 1982, ông để lại một di sản đồ sộ các bản thu âm, chương trình biểu diễn trên sóng phát thanh và truyền hình, bài báo và các buổi phỏng vấn. Trong đó, ông đưa ra những ý kiến và diễn giải gây ảnh hưởng trái chiều đến người yêu nhạc. Gạt bỏ phần lớn âm nhạc Lãng mạn của thế kỷ 19, sự nghiệp của Gould tập trung chủ yếu và âm nhạc của Johann Sebastian Bach, Arnold Schoenberg, Richard Strauss và một phần khiêm tốn cho những cái tên khác. Danh mục biểu diễn của ông khác biệt với tất cả những người còn lại. Và cũng không giống như nhiều đồng nghiệp, Gould ghét bỏ ánh đèn sân khấu, tiếng vỗ tay của khán giả và tỏ ra hứng thú hơn rất nhiều khi khép mình trong phòng thu âm. Nhưng tài năng của ông, đặc biệt trong các tác phẩm của Bach, là siêu phàm và độc nhất, Gould đã khám phá ra những ý tưởng âm nhạc theo một cách tưởng như không bao giờ có thể thực hiện được. Với tính khí cao ngạo và cực kỳ nhạy cảm, Gould có thói quen sống ẩn dật, ít lộ diện như để tránh những phiền nhiễu của thế giới bên ngoài. Cùng với đó là rất nhiều hành động lập dị khác. Tất cả những điều này đã tạo nên diện mạo của một trong những nghệ sĩ piano vĩ đại nhất thế kỷ 20.
Glenn Gold sinh ngày 25/9/1932 tại Toronto, họ của gia đình cậu được chuyển thành Gould vào năm 1939 để tránh nhầm lẫn là có nguồn gốc Do Thái do phong trào bài Do Thái tại Canada lên cao vào thời điểm đó. Glenn là đứa con độc nhất của ông Russell, một người kinh doanh da thú đồng thời là nghệ sĩ violin nghiệp dư tài năng và bà Florence, giảng viên piano. Ông ngoại của Glenn, John Charles Holman Greig là anh họ của Edvard Grieg. Ngay từ nhỏ, Glenn đã thể hiện năng khiếu và sự quan tâm đến âm nhạc của mình. Cậu thường ậm ừ thay vì khóc và các ngón tay thì luôn ngọ nguậy như thể đang chơi các hợp âm trên piano. Được cha mẹ cho tiếp xúc với âm nhạc và piano từ rất sớm, Glenn biết đọc nhạc trước khi học chữ và chứng tỏ mình có cao độ hoàn hảo khi ba tuổi. Mẹ cậu chính là thầy dạy piano đầu tiên. Cậu cũng tỏ ra hứng thú với việc sáng tác. Trong buổi biểu diễn đầu tiên của mình vào ngày 5/6/1938 tại Uxbridge, Ontario, Glenn đã chơi một trong những tác phẩm do chính cậu sáng tác trước lượng khán giả lên đến 2.000 người. Ngày 4/12/1938, cậu biểu diễn lần đầu trên đài phát thanh trong chương trình “Trẻ em ngày nay”. Cũng trong năm 1938 này, Glenn lần đầu tham dự buổi độc tấu piano của một nghệ sĩ nổi tiếng. Điều này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cậu, được mô tả lại: “Đó là Hofmann (Josef). Tôi nghĩ đây là buổi biểu diễn cuối cùng của ông ấy ở Toronto và đó là một ấn tượng đáng kinh ngạc. Điều duy nhất tôi thực sự có thể nhớ là, khi tôi được đưa về nhà trên xe hơi, tôi đã ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê tuyệt vời, nơi bạn nghe thấy đủ loại âm thanh khác lạ thường xuyên qua tâm trí mình. Tất cả đều là âm thanh của dàn nhạc, nhưng tôi đang chơi tất cả, và đột nhiên tôi trở thành Hofmann. Tôi đã bị mê hoặc”.
Năm 10 tuổi, Glenn bắt đầu theo học tại Royal Conservatory of Music, Toronto (nay là nhạc viện Toronto). Cậu học lý thuyết âm nhạc với Leo Smith, organ với Frederick C. Silvester và piano với Alberto Guerrero. Cũng trong khoảng thời gian học tại đây, cậu đã bị chấn thương tại lưng sau một tai nạn bên hồ Simcoe. Chính tai nạn này khiến trong suốt phần đời còn lại của mình, Glenn chơi piano trên một chiếc ghế đặc biệt được tự tay cha cậu chế tạo, giúp cậu ngồi thấp hơn so với bàn phím và “kéo xuống” các phím đàn thay vì chơi chúng từ trên cao, một kỹ thuật đặc biệt được thầy giáo Guerrero nghiên cứu dành riêng cậu học trò tài năng và khác biệt của mình. Đi biểu diễn tại đâu cậu cũng mang theo chiếc ghế này. Chính vị trí ngồi thấp hơn so với tiêu chuẩn thông thường đã cho phép Glenn kiểm soát bàn phím tốt hơn. Hai thầy trò đã cùng nhau rèn luyện một kỹ thuật độc đáo gọi là Gõ ngón tay (đặt một bàn tay lên phím đàn và dùng tay còn lại gõ lên đốt trên cùng của các ngón tay đó), phương pháp này giúp các ngón tay hoạt động độc lập hơn với cánh tay. Quá trình khổ luyện đã giúp Glenn có thể lựa chọn tốc độ biểu diễn rất nhanh mà vẫn giữ được sự riêng biệt và rõ ràng của từng nốt nhạc. Tháng 6/1945, khi chưa đầy 13 tuổi, Glenn đã đạt điểm cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp nhạc viện. Ngày 12/12/1945, Glenn ra mắt với tư cách nghệ sĩ organ tại khán phòng Eaton, Toronto. Ngày 8/5/1946, cậu có buổi biểu diễn đầu tiên cùng dàn nhạc khi chơi chương I bản Concerto piano số 4 của Beethoven cùng nhạc trưởng Ettore Mazzoleni và dàn nhạc của nhạc viện. Ngày 14/1/1947, Glenn chơi toàn bộ bản concerto piano này với Toronto Symphony Orchestra dưới sự chỉ huy của Bernard Heinze tại Massey Hall, Toronto.
Kể từ năm 1951, Gould ngừng việc học phổ thông, không bao giờ tốt nghiệp và bắt đầu sự nghiệp của một nghệ sĩ piano. Anh liên tục biểu diễn trên khắp Canada và trở thành một cái tên nổi bật trong đời sống văn hoá tại quê hương. Ngay từ giai đoạn khởi đầu này, Gould đã tỏ ra hứng thú với âm nhạc của Bach và Schoenberg, nhà soạn nhạc hiện đại được Guerrero giới thiệu cho cậu học trò của mình. Kể từ đó, Gould đã trở thành nhà vô địch trong việc giới thiệu các tác phẩm âm nhạc dành cho piano của Schoenberg cũng như trường phái Vienna mới với các tên tuổi Alban Berg và Anton Webern. Tháng 7/1951, ngay sau khi Schoenberg qua đời, Gould đã có một chương trình tưởng niệm ông tại nhạc viện Toronto. Đầu năm 1952, anh kết thúc việc học tập với Guerrero và sau đó, cùng với người hàng xóm và bạn thân từ nhỏ, Robert Fulford, đã thành lập công ty New Music Associates, chuyên tổ chức các buổi hoà nhạc. Tháng 11/1953, anh có bản thu âm thương mại đầu tiên trong Sonata piano của Berg và ba tiểu phầm dành cho piano và violin của Sergei Prokofiev, Dmitri Shostakovich và Sergei Taneyev được Gould thực hiện cùng Albert Pratz. Ngày 17/12/1953, Gould có cuộc nói chuyện tại Nhạc viện Toronto về Concerto piano của Schoenberg, mở đầu cho một chuỗi các bài giảng của anh về âm nhạc. Anh cũng sáng tác một số tác phẩm trong khoảng thời gian này và thành lập nhóm Festival Trio với nghệ sĩ cello Isaac Mamott và Pratz. Anh thường xuyên biểu diễn trên đài phát thanh, một hoạt động mà Gould duy trì trong nhiều năm sau đó.
Tháng 1/1955, Gould ra mắt khán giả Mỹ, với các buổi biểu diễn tại Washington DC và New York, trong một chương trình khác lạ gồm các tác phẩm của Bach, Beethoven, Berg và hai nhà soạn nhạc thời kỳ tiền Baroque Jan Sweelinck và Orlando Gibbons. Phong cách đặc biệt, từ tư thế ngồi cho đến phong cách sân khấu kỳ lạ (ngâm nga, ậm ừ nhỏ những giai điệu không liên quan đến tác phẩm đang chơi) của Gould đã tạo nên một hiện tượng độc nhất. Nhà phê bình Paul Hume đã nhận xét: “Glenn Gould là nghệ sĩ piano tài năng quý hiếm của thế giới. Chúng tôi không biết ai giống như ông ở mọi lứa tuổi”. Ngay sáng hôm sau buổi ra mắt tại New York, Gould đã được Columbia Records mời ký hợp đồng thu âm độc quyền và trở thành hãng thu âm trung thành trong suốt sự nghiệp của ông. Tháng 6/1955, Goldberg Variations của Bach ra đời, được phát hành vào tháng 1/1956, đánh dấu sự hợp tác đầu tiên giữa hai bên. Đĩa nhạc đã thu hút được sự quan tâm lớn của khán giả cũng như giới phê bình, góp phần đưa tên tuổi của Gould trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới. Mùa thu năm 1956, Sự tiến thoái lưỡng nan của Nghệ sĩ 12 âm, bài báo đầu tiên của Gould được in trên Canadian Music Journal. Đầu năm 1957, Gould có màn ra mắt cùng New York Philharmonic dưới sự chỉ huy của Leonard Bernstein và Cleveland Orchestra với George Szell trong Concerto piano số 2 của Beethoven. Szell đã nói với người trợ lý của mình: “Cậu nhóc đó là một thiên tài”. Tháng 2/1957, Gould xuất hiện trên chương trình truyền hình Chrysler Festival của đài CBC trong tư cách nhạc trưởng. Ông chỉ huy chương IV bản Giao hưởng số 2 “Phục sinh” của Gustav Mahler với sự tham gia của contralto Maureen Forrester.
Từ ngày 7-19/5/1957, Gould có chuyến lưu diễn tại Liên Xô, trở thành nghệ sĩ Bắc Mỹ đầu tiên xuất hiện tại đây kể từ sau Thế chiến thứ hai. Ông thực hiện sáu chương trình độc tấu tại Moscow và Leningrad, đông kín khán giả cũng như có hai buổi nói chuyện tại các nhạc viện của hai thành phố này về âm nhạc của trường phái Vienna thứ hai, những tác giả ít được nhắc đến tại Liên Xô. Tháng 5/1957, ông lần đầu tiên hợp tác cùng Herbert von Karajan và Berlin Philharmonic trong Concerto piano số 3 của Beethoven. Gould cũng thực hiện nhiều chuyến lưu diễn tại châu Âu và gây được tiếng vang lớn. Mặc dù không hút thuốc và uống rượu nhưng sức khoẻ của Gould không được tốt, có những dấu hiệu của sự suy nhược thần kinh. Trong những năm cuối thập niên 1950, ông thường phải huỷ bỏ các chương trình biểu diễn vào phút cuối vì lý do này. Đây là giai đoạn bận rộn nhất trong sự nghiệp của Gould, ông có một lịch trình biểu diễn, thu âm, các cuộc nói chuyện trên khắp Bắc Mỹ và châu Âu. Sự diễn giải âm nhạc của Gould ngày càng gây nên tranh cãi. Đỉnh điểm là trong buổi hoà nhạc tại Carnegie Hall vào ngày 6/4/1962 trong Concerto piano số 1 của Johannes Brahms với Bernstein và New York Philharmonic. Quan điểm của nghệ sĩ độc tấu và nhạc trưởng khác biệt với nhau đến nỗi, trước khi Gould xuất hiện, Bernstein đã nói với khán giả: “Một tình huống nghiêm trọng đã xuất hiện, mà với ý nghĩa của nó, tôi nghĩ nên có đôi lời. Chúng ta có thể nói rằng các bạn sắp được nghe một buổi biểu diễn bản Concerto piano số 1 của Brahms không chính thống, một chương trình có sự khác biệt rõ rệt mà tôi đã từng được nghe, hay thậm chí mơ về nó. Nó có một tốc độ chậm rõ rệt so với những chỉ dẫn đầy sôi nổi của Brahms. Tôi không thể nói là tôi hoàn toàn đồng ý với ý tưởng của Gould và sẽ có câu hỏi này xuất hiện: “Tại sao tôi lại chỉ huy nó?” Tôi sẽ làm như vậy vì Gould là một nghệ sĩ nghiêm túc và tài năng nên tôi luôn nhìn mọi quan điểm của Gould theo hướng tích cực và ý tưởng của ông ý đủ thú vị nên tôi nghĩ rằng các bạn nên nghe nó… Chỉ có duy nhất một lần trong đời mình tôi phục tùng hoàn toàn một ý tưởng mới và không tương thích của nghệ sĩ độc tấu và cũng là lần cuối cùng tôi chỉ huy cho Gould”. Ở Gould là một thế giới riêng và ông tin rằng vai trò của người biểu diễn là sáng tạo phù hợp, đưa ra những cách diễn giải độc đáo, sâu sắc mang tính cá nhân, đôi khi gây sốc cho người nghe, với nhịp độ cực đoan, cường độ kỳ quặc và sắc thái khó hiểu.
Bất chấp việc danh tiếng của Gould lên cao hơn bao giờ hết vào đầu những năm 1960, ngày 10/4/1964, ở tuổi 31, ông thực hiện buổi biểu diễn cuối cùng của mình trước công chúng tại Wilshire Ebell Theater, Los Angeles. Đã từ lâu, Gould ghét những buổi hoà nhạc trực tiếp, ông lo lắng, sợ hãi và thường cố tỏ ra là không có khán giả ở đó. Trong cả sự nghiệp của mình, ông chỉ biểu diễn khoảng 200 chương trình, tương đương với Van Cliburn thực hiện trong hai năm. Giải thích cho quyết định của mình, sau này Gould cho biết: “Tại các buổi hòa nhạc trực tiếp, tôi cảm thấy mình bị hạ thấp, như một kẻ phá đám”. Với Gould, đó là những sự thoả hiệp âm nhạc cực kỳ khó chịu dẫn đến tính bảo thủ ghê gớm trong việc diễn giải âm nhạc, sự thương mại của chúng với sự can thiệp đến từ mọi khâu đã biến các chương trình hoà nhạc thành một thứ tạp kỹ. Về cơ bản, Gould coi người nghệ sĩ có sứ mệnh trải nghiệm và chia sẻ một trạng thái “xuất thần” và khán giả chỉ có tác dụng tạo thêm áp lực và ngăn cản việc tiếp cận trạng thái đó. Ông cho rằng khán giả như những người chứng kiến một môn thể thao máu lửa, chờ đợi người biểu diễn mắc sai lầm và thất bại. Việc Gould rút lui khỏi cuộc sống hoà nhạc đã gây sốc cho cả giới phê bình và công chúng, những người cảm thấy ông đang quay lưng lại với họ khi đang trên đỉnh cao danh vọng. Nhưng Gould đã có kế hoạch rời đi trong nhiều năm và từng bóng gió đề cập đến vấn đề này kể từ những năm 1950. Ông coi các bản thu âm đại diện cho tương lai của âm nhạc. Gould kết luận rằng việc thu âm “cho phép người biểu diễn thiết lập mối liên hệ với tác phẩm rất giống mối quan hệ của chính nhà soạn nhạc với nó. Nó cho phép anh ta phân tích và mổ xẻ bản nhạc cụ thể một cách thấu đáo, biến nó thành phần quan trọng của cuộc đời anh ta trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, rồi chuyển sang một số thử thách khác và để thỏa mãn một số trí tò mò khác”. Và kể từ đó, Gould lảng tránh biểu diễn trực tiếp, tập trung vào việc thu âm, viết và nói chuyện về âm nhạc cũng như xuất hiện trên các chương trình truyền hình cũng như phát thanh.
Gould là hiện tượng kỳ lạ của nền âm nhạc cổ điển thế giới trong thế kỷ 20, có thể coi là độc nhất vô nhị, kể từ phong thái biểu diễn cho đến tư duy âm nhạc. Ông chỉ ngồi biểu diễn trên chiếc ghế do cha ông chế tạo, được kê cao hơn sàn nhà chính xác 14 inch, kể cả khi nó trở nên mòn vẹt và tạo ra những tiếng cót két có thể nghe thấy rõ ràng. Trong lúc biểu diễn và thu âm, Gould thường ngâm nga những giai điệu mà ông tuyên bố rằng mình không có ý thức về việc đó. Có vẻ như việc này xuất phát từ việc mẹ ông từng dạy “hãy hát tất cả những gì con có thể chơi”. Các kỹ sư âm thanh cũng bất lực trong việc loại bỏ chúng. Nhiều bản thu âm của ông từng bị chỉ trích nặng nề về “giọng hát nền” này. Cùng với đó là thói quen “chỉ huy” khi chơi đàn. Trong lúc một tay không phải chơi thì hay vung lên như một nhạc trưởng. Ông sợ cái lạnh, thường mặc nhiều quần áo, luôn đeo găng tay, ngay cả khi trời ấm áp. Gould sợ những giao tiếp xã hội, không thích người khác đụng chạm vào mình, kể cả bắt tay. Càng về sau, ông càng hạn chế tiếp xúc trực tiếp, chủ yếu liên hệ bằng điện thoại hoặc thư từ. Gould sống một cuộc sống yên tĩnh, đơn độc, không kết hôn và duy trì sự riêng tư tại một căn hộ nhỏ ở Toronto, chỉ rời đi vì những yêu cầu bắt buộc của công việc. Ông thường thu âm tại New York nhưng kể từ năm 1970 thì chuyển về Toronto.
Gould đã đạt được danh tiếng lớn nhất của mình với tư cách là người phiên dịch và phổ biến âm nhạc của Bach. Cho đến trước khi Gould xuất hiện, Bach phần lớn được xem như một nhân vật lịch sử, là đối tượng để nghiên cứu và gần như coi đó một di tích của quá khứ. Các buổi biểu diễn âm nhạc của Bach hoặc bị áp đặt chủ nghĩa Lãng mạn giả tạo hoặc có xu hướng nghe ra vẻ hàn lâm. Gould từ chối tất cả chủ nghĩa Lãng mạn và chủ nghĩa học thuật phiến diện để ủng hộ một cách tiếp cận hiện đại, mới mẻ, tôn trọng kiến trúc âm nhạc của Bach, tận hưởng sự tự do của những kỹ thuật điêu luyện đáng kinh ngạc và lôi cuốn người nghe vào một thế giới hướng nội và có cường độ tinh thần mạnh mẽ khiến người nghe cảm thấy họ đang khám phá âm nhạc của Bach và lần đầu tiên đối diện với sự vĩ đại của nó. Gould coi Bach là “kiến trúc sư tối cao của âm thanh”. Gould thường rất ít sử dụng pedal và chơi legato, vốn được các nghệ sĩ khác ưa chuộng. Với Schoenberg, người từ bỏ sự hài hoà và du dương của âm nhạc, Gould như tìm thấy ở nhà soạn này một người kế thừa di sản của Bach, một nhân vật có dũng khí đối đầu với hiện thực âm nhạc của thời kỳ hiện đại. Một người hùng khác của Gould là Richard Strauss, được ông tôn vinh là “nhân vật âm nhạc vĩ đại nhất đã sống trong thế kỷ này”. Gould có ác cảm rõ rệt với những gì ông gọi là phương pháp tiếp cận “khoái lạc”, như các tác phẩm âm nhạc thời kỳ cuối Mozart, khiến ông từng cho rằng Mozart qua đời quá muộn thay vì rất sớm. Ông từng xuất hiện trên truyền hình trong một chương trình có tiêu đề: “Mozart đã trở thành một nhà soạn nhạc tệ hại như thế nào”. Gould cũng thẳng thừng chỉ trích về toàn bộ thời kỳ Lãng mạn “là một sự lãng phí thời gian khổng lồ”. Trong đó, ông đặc biệt chỉ trích Frédéric Chopin. Khi được hỏi liệu mình có muốn chơi Chopin hay không, Gould trả lời: “Không, tôi không. Tôi chơi nó trong một thời điểm yếu đuối – có thể một năm một hoặc hai lần cho bản thân. Nhưng nó không thuyết phục được tôi”. Tuy nhiên, vào năm 1970, ông thu âm bản Sonata piano số 3 của Chopin, cho biết: “đại loại là thích chương đầu tiên của bản sonata”.
Năm 1982, Gould tuyên bố phần lớn tài liệu về piano mà ông quan tâm đã cạn kiệt và chuyển sang một sở thích mới: chỉ huy dàn nhạc. Cùng một số thành viên của Toronto Symphony Orchestra, ông đã thu âm phiên bản gốc của Siegfried-Idyll (Richard Wagner) vào tháng 7/1982. Gould đã lên một kế hoạch đầy tham vọng cho ít nhất vài năm tới để thực hiện dự án mới này. Tuy nhiên, ngày 27/9/1982, chỉ hai ngày sau sinh nhật lần thứ 50, ông bị đột quỵ và được đưa vào bệnh viện. Đến ngày 4/10, Gould được chẩn đoán gặp tổn thương não và Russell, cha ông đã quyết định để các bác sĩ ngừng hỗ trợ sự sống cho con trai mình. Tang lễ Gould được tổ chức vào ngày 15/10, có khoảng 3.000 người tham dự và được truyền hình trực tiếp trên CBC. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Mount Pleasant, trên bia mộ có khắc những ô nhịp đầu tiên của Goldberg Variations. Bản thu âm cuối cùng trong tổng số hơn 80 đĩa nhạc của ông là các tác phẩm dành cho piano độc tấu của Richard Strauss. Vào năm 1981, Gould từng trả lời phỏng vấn: “Khi tôi bước qua tuổi 20, tôi tự nói với bản thân rằng, tôi sẽ tổ chức các buổi hoà nhạc cho đến khi tôi xấp xỉ 30. Và tôi đã muộn một năm rưỡi, nhưng, đó là những gì tôi đã làm. Tôi nói, khi tôi bước qua tuổi 30, tôi nên thu âm cho đến khi khoảng 50 tuổi”. Không ngờ điều đó đã trở thành sự thật, theo cách bất hạnh nhất.
Những màn trình diễn của Gould toát ra một sức quyến rũ kỳ diệu với một số lượng khán giả và cũng mang tới sự phản đối của một bộ phận khác. Nhưng phong thái chơi piano độc đáo của Gould, cái nhìn sâu sắc về kiến trúc của các tác phẩm và cách giải thích mang đậm dấu ấn cá nhân luôn khiến chúng ta phải suy tư và nhìn nhận bản nhạc theo nhiều góc độ khác nhau. Giáo sư triết học Mark Kingwell đã nhận xét: “Ảnh hưởng của ông ấy là không thể tránh khỏi. Không một nghệ sĩ biểu diễn nào sau Gould có thể tránh được tiền lệ mà ông ấy đặt ra… Bây giờ, mọi người phải biểu diễn thông qua ông ấy: Gould có thể bị bắt chước hoặc bị từ chối, nhưng ông ấy không thể bị bỏ qua”. Gould không đơn thuần là một nghệ sĩ piano, ông sở hữu một bộ óc phi thường, đặt ra những chuẩn mực của riêng mình, thiết lập những khái niệm khác biệt với đại đa số đồng nghiệp. Như Nicholas Spice đã nhận xét: “Gould mang âm nhạc đến cho chúng ta như ai đó có thể đặt vào tay chúng ta một vật mong manh và vô giá mà ông ấy yêu quý hơn bất cứ thứ gì khác”. Tài năng thiên bẩm đó, cùng với tất cả sự lập dị và những thói quen khác người đã tạo nên diện mạo của Glenn Gould, một trong những nghệ sĩ piano vĩ đại nhất của thế kỷ 20.
Cobeo





