“Một nguồn cảm hứng… không chỉ vì nhạc cụ vinh quang của bà, mà còn với tư cách là một nghệ sĩ dũng cảm, người đã khám phá những tác phẩm bel canto chưa được biết đến, giờ đây rất may là một phần của tiết mục tiêu chuẩn ngày nay. Không có giọng soprano nào trong lịch sử được ghi lại giọng hát với kỹ thuật điêu luyện hoàn hảo như vậy.” – Renée Fleming
“Một trong những trò đùa của Chúa là biến Joan thành một nữ sinh quá khổ và sau đó ban cho cô giọng hát thiên thần”. Đó không chỉ lời nhận xét hóm hỉnh của diễn viên nổi tiếng Edith Evans mà nó tóm tắt hoàn hảo về chân dung của Joan Sutherland, một trong những soprano vĩ đại nhất của thế kỉ 20. Với vóc dáng cao lớn (1m75), gương mặt góc cạnh, Sutherland đã chinh phục khán giả bằng giọng hát có vẻ đẹp diệu kì dựa trên một nền tảng kĩ thuật hoàn hảo. “La Stupenda” – Sự lộng lẫy là biệt danh mà những người hâm mộ dành tặng cho bà, để miêu tả vẻ tráng lệ, rực rỡ và tuyệt diệu mỗi khi bà cất lên tiếng hát. Đó là một âm sắc trong trẻo như pha lê, khả năng chạy những nốt nhạc nhanh đáng kinh ngạc với âm vực rộng lên đến gần ba quãng tám và có cường độ rất lớn, có thể so sánh với những Wagnerian thực thụ. Là soprano không đối thủ trong địa hạt bel canto, Sutherland góp công to lớn trong việc khôi phục lại những vở opera của thời kì này mà tưởng như đã bị lãng quên. Trong một rừng dày đặc những bông hoa soprano khoe sắc, La Stupenda vẫn nổi trội với sự lộng lẫy riêng biệt của mình, không thể nhầm lẫn với bất cứ ai khác. Điều này không chỉ đến từ giọng hát, phong cách mà còn từ khí chất. Bởi bà là độc nhất và không thể bắt chước.
Joan Alston Sutherland sinh ngày 7/11/1926 tại Sydney trong một ngôi nhà khiêm tốn nhìn ra bến cảng. Ngôi nhà sở hữu một khu vườn bên sườn đồi gần bãi biển với nhiều loài hoa phong phú đã truyền tình yêu cây cỏ cho Sutherland trong suốt cuộc đời. William, cha của cô là một thợ may, đã qua đời vào đúng sinh nhật lần thứ sáu của Joan. Tặng cô con gái bộ đồ tắm, mặc dù cảm thấy không khoẻ, ông vẫn cố gắng cùng Joan đi xuống bãi biển. Khi trở về, William lên cơn đau tim và qua đời trong vòng tay vợ mình. Joan có ba người chị và một người anh, những người con của William với người vợ trước. Và Joan là đứa con duy nhất của ông với mẹ cô, bà Muriel, sở hữu giọng mezzo-soprano tuyệt đẹp, là học trò của Mathilde Marchesi, người từng dạy Nellie Melba, soprano người Australia duy nhất có thể so sánh với Sutherland về sự nổi tiếng. Bà đã từ bỏ sự nghiệp của mình để chăm lo cho gia đình. Sau khi William qua đời, gia đình cô chuyển đến sinh sống tại Woollahra, vùng ngoại ô của Sydney. Muriel chính là giáo viên thanh nhạc đầu tiên của con gái mình và yêu cầu cô luyện thanh hằng ngày. Tuy nhiên, bà khẳng định giọng hát của Joan là mezzo-soprano. Bà Muriel có một bộ sưu tập các đĩa hát và Joan đã được thưởng thức tài năng của những danh ca hàng đầu thời kỳ đó như Melba hay Luisa Tetrazzini. Sutherland thuật lại trong hồi kí: “Từ năm 3 tuổi, tôi đã có thể bắt chước thang âm và bài tập của mẹ. Vì bà là giọng mezzo-soprano, nên tôi đã luyện tập rất nhiều ở âm khu giữa của mình, học các âm giai và hợp âm rải và thậm chí cả cách rung láy đáng sợ mà không cần suy nghĩ về nó. Những con chim có thể hót, vậy tại sao tôi lại không? Tôi thậm chí còn chọn các bài hát và aria của mẹ và hát bằng tai, sau đó hát song ca với bà, tôi hát Manrico, còn bà – Azucena. Giọng hát của tôi có từ đó”.
Khi Joan 16 tuổi, phải đối mặt với việc phải nuôi sống bản thân, cô đã hoàn thành khoá học làm thư ký và nhận công việc văn phòng. Tuy nhiên, cô vẫn theo học các khoá thanh nhạc. Thầy giáo tại Sydney của cô là Aida Dickens, người cho rằng học trò mình sở hữu giọng soprano kịch tính. Joan tham gia hát trong một số oratorio, trong đó đáng chú ý là đêm nhạc vào ngày 12/12/1946 với Christmas oratorio (Johann Sebastian Bach). Sáng hôm sau, Sydney Morning Herald đã đăng tin: “…Có một cô gái lĩnh xướng khác, một cô gái trẻ bí ẩn xuất hiện từ phía sau dàn nhạc và thể hiện một số bài hát hay nhất trong buổi tối, nhưng tên của cô ấy thậm chí còn không được đưa vào chương trình”. Cô gái đó chính là Joan. Năm 1947, cô có được vai diễn opera đầu tiên trong sự nghiệp khi hát Dido (Dido and Aeneas, Henry Purcell) trong một phiên bản hoà nhạc. Nhớ lại giai đoạn này, Sutherland cho biết: “Lúc đó tôi phát cuồng vì Kirsten Flagstad vì vậy tôi bắt đầu tưởng tượng mình là một Wagnerian”. Trong quá trình học hát, Joan tự ti về chiều cao, chiếc cằm vểnh và vóc dáng cường tráng của mình. Sau này, Sutherland thú nhận: “Tôi luôn biết rằng tôi không thể nhập vai Madama Butterflay 15 tuổi hay cô nàng Mimì mắc bệnh lao phổi”. Joan đã tham gia một số cuộc thi thanh nhạc và giành được một số giải thưởng. Với số tiền đạt được, năm 1951, cùng mẹ, Joan đã lên đường tới London và đăng ký theo học tại Royal College of Music, giảng viên của cô là Clive Carey. Một năm sau, sau ba lần thử giọng không thành công, cuối cùng Joan cũng được nhận vào biểu diễn tại Covent Garden danh giá. Cô ra mắt tại đây vào ngày 28/10/1952 trong một vai diễn nhỏ: người hầu thứ nhất của Nữ hoàng đêm tối.
Trong lịch sử biểu diễn opera, có rất nhiều nghệ sĩ là thiên tài, họ nổi bật chỉ sau một vài đêm diễn. Hiển nhiên Sutherland không thuộc trường hợp này. Cô đã phải rất vất vả để khẳng định vị trí của mình tại Covent Garden, bắt đầu từ những vai nhỏ và không ngừng nỗ lực để đạt được những nấc thang cao hơn trong sự nghiệp. Những màn hoá thân tiếp theo của Sutherland chỉ là Nữ tư tế (Aida, Giuseppe Verdi) và Clotilde (Norma, Vincenzo Bellini). Người đóng vai chính trong Norma chính là Maria Callas huyền thoại. Bà đã nhanh chóng nhận ra tiềm năng của Sutherland và đã khuyên cô: “Bây giờ hãy chăm sóc giọng hát của bạn, chúng tôi sẽ nghe thấy những điều tuyệt vời từ bạn”. Vai chính đầu tiên của Sutherland đến vào ngày 29/12/1952 với Amelia (Un ballo in maschera, Verdi). Tuy nhiên, cô vẫn mơ về những vai diễn Wagner của mình. Tại London, Sutherland đã may mắn gặp lại nhạc trưởng trẻ tuổi đồng hương Richard Bonynge, mà cô từng quen biết khi họ gặp nhau ở Sydney trước đó. Tình bạn giữa họ nảy nở, Bonynge nhớ lại: “Chúng tôi gặp nhau lần đầu vào những năm 1940 ở Sydney và chúng tôi rất thân thiết, nhưng không thực sự hiểu rõ về nhau. Tôi đến London năm 1950 và cô ấy đến sau đó một năm – đó là lúc nó bất ngờ bốc cháy. Ngoài bất cứ điều gì khác, chúng tôi đã trở thành những người bạn tuyệt vời. Chúng tôi làm mọi thứ cùng nhau: chúng tôi thích đi xem kịch, ballet, opera… Nó trở thành một phần cuộc sống của chúng tôi: chúng tôi đã dành cả cuộc đời cho nhau kể từ thời điểm đó”.
Hai người kết hôn vào ngày 16/10/1954 trong một buổi lễ được tổ chức nhỏ gọn “không khách mời, âm nhạc hay quà tặng” với những bông hoa duy nhất đến từ Richard Webster, chủ tịch của Royal College of Music. Đám cưới giữa Sutherland và Bonynge là sự khởi đầu cho một sự hợp tác âm nhạc nổi tiếng. Nhận thấy khả năng chạy nốt nhanh nhẹn của vợ mình theo đúng truyền thống bel canto, vốn đang bắt đầu hồi sinh từ đầu những năm 1950 mà Callas là người khởi xướng, Bonynge nghi ngờ giọng hát của Sutherland là soprano coloratura. Bản thân Sutherland và bà Muriel trước đó đều không tin Sutherland có thể đạt được những yêu cầu mà các vở opera bel canto đòi hỏi. Muriel thậm chí còn sợ hãi rằng nếu dấn thân theo con đường này, giọng hát của con gái bà sẽ bị hỏng. Tuy nhiên, giờ đây Bonynge có thể quan sát Sutherland hát một cách kỹ càng. Ông chơi piano, tập luyện cùng vợ mình hằng ngày và dần dần mở rộng âm vực của Sutherland mà bà không hề hay biết. Đến một ngày, Sutherland nhận ra mình có thể thể hát lên tới nốt F6 và hiểu được rằng các vở opera bel canto hoa mỹ mới là con đường đúng đắn cho giọng hát của mình chứ không phải là thứ âm nhạc mạnh mẽ, giàu kịch tính và hoành tráng của Wagner. Sutherland nhớ lại: “Richard đã quyết định rất lâu trước khi tôi đồng ý với anh ấy rằng tôi là một coloratura. Chúng tôi đã cãi nhau rất hăng say. Richard mất đến ba năm để thuyết phục tôi”. Kể từ đó, Bonynge và Sutherland trở thành đối tác âm nhạc ăn ý, cùng nhau khám phá toàn bộ khả năng trong giọng hát của bà, đặt nền móng cho sự phát triển tiếp theo, tìm kiếm hướng đi thích hợp cho tương lai. Bonynge không ngừng kiến nghị với các thành viên cấp cao của Covent Garden, bất cứ khi nào có cơ hội, hãy xem xét dàn dựng những tác phẩm phù hợp để Sutherland có cơ hội thể hiện tài năng của mình. Báo chí Anh lúc đó cũng lên án Covent Garden có một lịch biểu diễn “thiếu hấp dẫn và buồn tẻ”, là một trợ lực đáng kể cho Bonynge.
Covent Garden đã có những trợ giúp đáng kể cho Sutherland. Bà được cho theo học với Norman Ayrton tại London Academy of Music and Dramatic Art để nâng cao khả năng diễn xuất. Sutherland có nhiều vai diễn chính hơn, ví dụ như Gilda (Rigoletto, Verdi), Agathe (Der Freischütz, Carl Maria von Weber) hay Eva (Die Meistersinger von Nürnberg, Wagner). Theo năm tháng, tài năng và sự tự tin của Sutherland đã được tích luỹ và bà chờ đợi cơ hội thích hợp để bủng nổ. Covent Garden quyết định dàn dựng Lucia di Lammermoor (Gaetano Donizetti) sau hơn 35 năm với đạo diễn Franco Zeffirelli và nhạc trưởng Tullio Serafin. Vai chính được tin tưởng giao cho Sutherland, một sự mạo hiểm lớn vì Lucia đòi hỏi cả sự kỹ thuật và kịch tính trong giọng hát và có tần suất xuất hiện trên sân khấu rất lớn. Khoảng 70 năm trước Melba đã gây ấn tượng mạnh mẽ tại Covent Garden với vai diễn này và dường như có một chút gì đó liên hệ để ban lãnh đạo nhà hát đặt niềm tin vào Sutherland. Nhưng những người hiểu rõ bà đều biết được rằng Lucia là một phương tiện hoàn hảo để Sutherland thể hiện năng lực của mình. Zeffirelli nhớ lại: “Tullio đã thúc giục tôi tới nghe một cô ca sĩ trẻ. Tôi đến khách sạn và anh ấy nói: “Tôi muốn anh gặp một người. Đừng lo lắng về ngoại hình của cô ấy”. Chúng tôi đến nhà hát và tôi nhìn thấy cô ấy, cao lớn như một trung sĩ trong quân đội với giọng Úc khủng khiếp. Cô ô ấy bắt đầu hát và đã chinh phục tôi. Tôi đã nói, Chúa ơi, Callas sẽ gặp rắc rối to đây Họ là hai nghệ sĩ vĩ đại… Họ tôn trọng lẫn nhau”. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Sutherland và cả Bonynge đã cho thấy niềm tin mà Covent Garden đặt vào bà là hoàn toàn xứng đáng. Trong đêm diễn thử, với sự tham dự của Callas và Elisabeth Schwarzkopf, sau khi kết thúc, dàn nhạc, dàn hợp xướng và toàn thể khán giả trong nhà hát đã đồng loạt vỗ tay tán thưởng bà. Và tại đêm diễn chính thức ngày 17/2/1959, Sutherland đã toả sáng rực rỡ. Bà đã thể hiện tất cả những cadenza với sự phức tạp cao độ, không hề bỏ qua dù chỉ một nốt hoa mĩ nào và tạo ra cảnh điên cuồng thể hiện rõ ràng sự loạn trí. Sutherland đã được tưởng thưởng màn tung hô kéo dài tới 19 phút. Zeffirelli, người có mối quan hệ thân thiết với La Scala đã bày tỏ muốn sớm được đón tiếp bà tại nhà hát này. Dường như một ngôi sao được sinh ra chỉ sau một đêm, nhưng thành công và danh tiếng – những thứ mà bản thân Sutherland cảm thấy ít có ý nghĩa hơn những gì người ta tưởng – thực tế chỉ đạt được sau nhiều thập kỉ cống hiến và làm việc chăm chỉ. Nhà phê bình âm nhạc Andrew Porter, người đã theo dõi sát sao Sutherland từ những ngày đầu bà đặt chân lên Covent Garden đã ngạc nhiên trước ấn tượng mới mà Sutherland đem lại: “Dấu vết của sự e dè, lúng túng trên sân khấu đã biến mất; và đồng thời cô ấy hát thoải mái hơn, mạnh mẽ hơn, mãnh liệt hơn và cũng mê hoặc hơn bao giờ hết”.
Các hãng thu âm đã nhanh chóng liên hệ với Sutherland. Năm 1960, bà thực hiện album The Art of the Prima Donna với Decca. Đây đã trở thành một trong những đĩa nhạc tuyệt vời nhất trên giới, phải có trong mọi bộ sưu tập đĩa nhạc, bởi nó ghi lại những gì tuyệt vời nhất, hoàn hảo nhất của giọng hát Sutherland trong giai đoạn thanh xuân rực rỡ. Thập niên 60 là giai đoạn vô cùng bận rộn của Sutherland. Bà nhanh chóng có mặt tại tất cả các trung tâm opera trên thế giới. Sutherland xuất hiện tại La Fenice, Venice vào năm 1960 với Alcina (Alcina, George Frideric Handel) và được tung hô là La Stupenda, biệt danh sẽ mãi mãi gắn liền với tên tuổi bà. Tháng 2/1961, Sutherland ra mắt khán giả New York trong phiên bản hoà nhạc vở opera Beatrice di Tenda (Bellini) tại Town Hall. Vào sáng hôm biểu diễn, Sutherland nhận được tin mẹ mình qua đời nhưng bà không huỷ bỏ chương trình: “Dường như không đời nào tôi có thể biểu diễn buổi hoà nhạc. Mẹ sẽ muốn tôi ở lại và hoàn thành nghĩa vụ của mình”. Ngày 26/11/1961, Sutherland lần đầu xuất hiện tại Metropolitan Opera và vẫn trong Lucia. Danh tiếng của bà đã khiến khán giả rất háo hức, họ xếp hàng từ 7h30 sáng để mua vé với hi vọng được chứng kiến tài năng của Sutherland. Và đó lại là một thành công rực rỡ nữa, bà đã khiến khán giả nín thở khi thăng hoa trong màn điên loạn, kết thúc bằng một nốt Mi giáng chói sáng khiến những tràng vỗ tay kéo dài hơn 5 phút. Và khi kết thúc vở diễn, Sutherland tiếp tục được khán giả tung hô trong suốt 12 phút. Irving Kolodin thán phục trên Saturday Review: “Joan Sutherland đã đến, hát và chinh phục Metropolitan Opera”. Bà nhớ về khoảnh khắc này: “Tôi đã một vài lần nhận được phản ứng tuyệt vời của khán giả, nhưng lần này đã đánh bại tất cả. Giống như những cổ động viên của một đội bóng được ưu ái trong một trận đấu bóng đá và có phần hơi đáng sợ. Đó cũng là một điều khá đáng để sống”. Với giọng hát soprano coloratura tuyệt vời của mình, Sutherland đã làm sống lại nhiều vở opera đã từ rất lâu không còn được phổ biến trên sân khấu như La sonnambula, I puritani (Bellini) hay La Fille du Régiment (Donizetti) mà bà có sự kết hợp hoàn hảo với người bạn diễn thân thiết Luciano Pavarotti.
Chuyên gia Ivor Griffiths, người đã chăm sóc cổ họng của rất nhiều diễn viên và ca sĩ, đã khám cho Sutherland và tuyên bố rằng minh chưa bao giờ thấy một hệ thống dây thanh quản nào lớn và hoàn hảo như vậy. Sutherland sở hữu một giọng hát đáng kinh ngạc với âm vực lên đến gần ba quãng tám, từ La của âm vực thấp tới Pha của âm vực cao với sự đồng đều trải dài trên toàn bộ những nốt nhạc đó. Sutherland vốn bị xoang từ nhỏ nhưng sau thành công của Lucia năm 1959, bà đã thực hiện một cuộc phẫu thuật để giải quyết triệt để các vấn đề của đường mũi vốn bị tắc kinh niên. Đó là hành động mạo hiểm đối với một ca sĩ, nhưng nó đã thành công. Một điểm đáng chú ý của Sutherland là bà sở hữu âm lượng rất lớn, không thua kém bất kỳ Wagnerian hàng đầu nào. Cùng với đó là sự nhanh nhẹn đáng kinh ngạc và cao độ chính xác kỳ lạ của nó, như nhà phê bình Martin Bernheimer đã nhận xét: “Người ta không bao giờ hết kinh ngạc trước cách Sutherland điều khiển một nhạc cụ thanh nhạc cơ bản lớn như thể nó mảnh mai và linh hoạt như vốn có của những giọng soprano coloratura”. Bà cũng có thể thể hiện những đường legato mềm mại, thanh lịch với màu sắc tinh tế và sắc thái biểu cảm. Và đương nhiên, là một soprano thống trị trong địa hạt bel canto, Sutherland nắm giữ khả năng coloratura hoàn hảo, thể hiện hoàn hảo các màn chạy nốt nhạc nhanh mà không hề cắt xén hay lạm dụng. Nhược điểm lớn nhất mà các nhà phê bình âm nhạc thường chỉ trích bà là việc nhả chữ. Có lẽ chất giọng Úc đậm đặc khiến Sutherland gặp khó khăn trong việc phát âm các ngôn ngữ khác. Cùng với đó là khả năng diễn xuất. Bà không phải là một diễn viên giỏi, không có sự biến hoá trên sân khấu mà thường chỉ đứng đó và chinh phục khán giả bằng giọng hát tuyệt đẹp của mình. Sutherland còn chinh phục khán giả ở tính khí khiêm tốn, bình dị, gần gũi của mình: “Tôi là một bà mẹ. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc trở thành một diva. Tôi chỉ muốn hát các vai diễn và tiếp tục với công việc của mình. Tôi thường đến rạp hát bằng taxi chứ không phải Rolls-Royce. Tôi không có thời gian để làm tất cả những thứ ngớ ngẩn đó”. Đó là kết quả giáo dục của bà Muriel như Sutherland kể lại: “Bạn không thể là một prima donna trong gia đình tôi, bởi vì nếu bạn thể hiện dù chỉ một chút tính khí đó, bạn sẽ bị bắt đi ngủ mà không được ăn tối”.
Trong những năm về sau, Sutherland thường xuyên hợp tác vớ Bonynge, đặc biệt trong các bản thu âm. Cùng nhau và với hãng Decca, họ đã thực hiện ghi âm hầu hết các vở opera bel canto quan trọng nhất của Donizetti hay Bellini. Sutherland vui vẻ khi được sát cánh cùng người đàn ông của đời mình: “Đối với tôi, anh ấy là nhạc trưởng hoàn hảo. Anh ấy biết cách lấy hơi như thế nào và anh ấy hoàn toàn biết cảm giác cũng như khả năng của tôi”. Đối tác thân thuộc và lý tưởng nhất của Sutherland chính là tenor trẻ tuổi Pavarotti, người mà luôn dành cho bà sự kính trọng lớn lao: “Đó là giọng hát của thế kỷ” và thừa nhận mình học được từ bà rất nhiều. Sutherland và Pavarotti đã hợp thành một trong những cặp bài trùng tuyệt vời nhất trong lịch sử opera. Tuy nhiên, đối với nhiều người hâm mộ, chính sự gắn bó quá chặt chẽ giữa Sutherland và Bonynge phần nào đã hạn chế đi khả năng của bà. Họ lấy dẫn chứng trong các bản thu âm Requiem (Verdi) do Georg Solti chỉ huy với Vienna Philharmonic năm 1967 và Turandot (Puccini) thực hiện cùng Zubin Mehta vào năm 1972, vai diễn mà chưa một lần Sutherland hát trên sân khấu. Trong cả hai đĩa nhạc này, Sutherland hát với một cường độ mạnh mẽ hơn, đặc biệt trong Turandot. Rõ ràng, màn thể hiện rực cháy đó cho thấy Sutherland có những khả năng kịch tính chưa bao giờ được Bonynge khai thác. Nhà âm nhạc học Will Crutchfield đánh giá: “Giọng hát của cô ấy ở đây cực kỳ sống động, đầy sự thích thú mà cô ấy hiếm khi thể hiện đối với thứ âm nhạc ở xa quê hương của kỹ thuật bel canto điêu luyện”.
Sutherland có một sự nghiệp bền vững và kéo dài khoảng 50 năm. Danh mục biểu diễn của bà khá đồ sộ, không chỉ bó hẹp trong opera bel canto mà còn có cả các tác phẩm từ Baroque tới hiện đại. Buổi biểu diễn chính thức của bà diễn ra vào ngày 2/10/1990 tại Sydney Opera House với vai Margaret de Valois (Les Huguenots, Giacomo Meyerbeer). Kết thúc đêm diễn, bà đã hát tặng khán giả bài hát quen thuộc Home Sweet Home để tưởng nhớ Melba vĩ đại. Sau khi nghỉ hưu, bà và chồng sống chủ yếu tại Les Avants, Thuỵ Sĩ. Sutherland ít xuất hiện trước công chúng, thỉnh thoảng mở các lớp master class và dành thời gian chủ yếu để chăm sóc khu vườn của mình, công việc yêu thích của bà ngay từ khi còn nhỏ. Trong một lần như vậy vào ngày 3/7/2008, bà đã bị ngã và gãy cả hai chân. Sutherland qua đời vào ngày 10/10/2010 tại Les Avants sau một khoảng thời gian dài lâm bệnh ở tuổi 83. Opera Theatre nằm trong Sydney Opera House được đổi tên thành Joan Sutherland Theatre để tri ân một trong những ca sĩ vĩ đại nhất của thế giới.
Trở thành một ca sĩ opera không bao giờ chỉ là một công việc đối với Sutherland. Đó là một tiếng gọi, một lối sống đòi hỏi sự cống hiến tuyệt đối cả trong và ngoài sân khấu. Sutherland luôn lưu ý rằng đại đa số người hâm mộ không phải là những nhà bảo trợ giàu có mà là những người đã phải hi sinh nhiều thứ để có thể tham dự các chương trình của mình. Bà hiếm khi hủy một buổi biểu diễn, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải hát trên nỗi đau thể xác hoặc tinh thần. Sutherland vẫn luôn như vậy, cống hiến hết mình và không đòi hỏi bất cứ điều gì. Đó vẫn sẽ mãi một La Stupenda, lộng lẫy rực rỡ và chói sáng.
Cobeo tổng hợp





