CHƯƠNG XIX – MỘT CUỘC SỐNG MỚI

 

Năm 1891 được đánh dấu bằng một sự kiện có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của tôi.

Vào tháng 5 năm đó, nhà xuất bản Hartmann ngừng hoạt động.

Chuyện này diễn ra như thế nào? Cơ sự nào gây nên thảm họa này? Tôi băn khoăn tự hỏi mà không thể trả lời. Tôi thấy dường như mọi thứ ở nhà xuất bản của tôi đang diễn ra suôn sẻ. Bởi vậy tôi vô cùng sững sờ khi hay tin tất cả các tác phẩm do Hartmann xuất bản sẽ được đem phát mại và sẽ phải đối mặt với thử thách đấu giá công khai. Đây là điều bất trắc đáng lo ngại nhất với tôi.

Tôi có một người bạn sở hữu một chiếc két sắt. Người bạn may mắn! Tôi đã giao cho anh giữ tổng phổ dàn nhạc và piano của Werther, và tổng phổ dàn nhạc của Amadis. Vậy là bên cạnh những đồ giá trị của mình, anh còn cất giữ trong đó những giấy tờ… vô giá trị. Những tổng phổ này được viết tay.

Các con thân yêu ơi, các con đã biết về số phận của Werther; có lẽ một ngày nào đó các con sẽ biết về số phận của Amadis mà tác giả libretto là người bạn tuyệt vời Jules Claretie của chúng ta ở Viện hàn lâm Pháp ngữ.

Như ta có thể hình dung, nỗi lo lắng của tôi lớn vô cùng. Tôi đã ngờ phải chứng kiến thành quả lao động nhiều năm trời của mình bị phân tán khắp mọi nhà xuất bản. Manon sẽ đi đâu? Hérodiade sẽ trôi dạt về đâu? Ai sẽ có được Marie Magdeleine? Ai sẽ có Các tổ khúc dàn nhạc của tôi? Tất cả những điều này làm xáo trộn suy nghĩ và khiến tôi bất an.

Tôi tin chắc rằng Hartmann, người luôn thể hiện với tôi biết bao thiện chí và người có trái tim nhạy bén đến thế đối với lợi ích của tôi, chắc hẳn cũng buồn bã như tôi trước tình cảnh vô cùng khó khăn này.

Henri Heugel và cháu trai ông, Paul-Émile Chevalier, các chủ sở hữu của nhà xuất bản Le Ménestrel lớn mạnh, là những vị cứu tinh của tôi. Họ sẽ là những hoa tiêu cứu đắm tất cả các tác phẩm trong chặng đời đã qua của tôi, ngăn chặn việc chúng bị phân tán và chịu nguy cơ phiêu lưu hay may rủi.

Họ mua lại toàn bộ tài sản của Hartmann với một giá rất cao.

Vào tháng 5 năm 1911, tôi đã ôm hôn họ nhân dịp kỷ niệm 20 năm mối quan hệ tốt đẹp và trìu mến mà chúng tôi chưa bao giờ ngừng có với nhau, đồng thời tôi bày tỏ với họ lòng biết ơn sâu sắc mà tôi luôn dành cho họ.

Đã bao lần tôi đi qua trước cửa nhà xuất bản Le Ménestrel, thèm muốn mà không mảy may có ý nghĩ thù địch với các ông chủ xuất bản này và với tất cả những ai được nhà xuất bản lớn này sủng ái!

Việc tôi bước vào Le Ménestrel đã mở ra cho tôi một kỷ nguyên vinh quang, và mỗi lần đến đó, tôi đều cảm thấy cùng một niềm hạnh phúc sâu sắc. Tất cả những điều vừa ý tôi trải qua cũng như những nỗi buồn tôi cảm nhận, đều có tiếng vọng chân thực nhất nơi trái tim các nhà xuất bản của mình.

…

Vài năm sau, Léon Carvalho lại trở thành giám đốc Nhà hát Opéra-Comique. Đặc quyền của ông Paravey đã hết.

Tôi nhớ đến một tấm thiệp của Carvalho mà một ngày sau khi ông ra đi vào năm 1887, ông đã gạch bỏ chức danh “giám đốc”. Nó thể hiện việc từ chức đáng buồn của ông:

“Thầy kính mến,
“Tôi xóa chức danh, nhưng tôi vẫn lưu giữ ký ức về những niềm vui nghệ thuật tuyệt vời của mình. Manon chiếm vị trí đầu tiên…
“Ôi! viên kim cương tuyệt đẹp!
“Léon Carvalho.”

Ý nghĩ đầu tiên của ông là phục dựng Manon, vở đã biến mất khỏi áp phích kể từ trận hỏa hoạn đầy ký ức bi thảm đó. Việc phục dựng này diễn ra vào tháng 10 năm 1892.

Sibyl Sanderson, như tôi đã kể, được Nhà hát Monnaie ở Bruxelles thuê trong một năm. Cô diễn trong Esclarmonde và Manon. Carvalho đã đưa cô khỏi Nhà hát Monnaie để về phục dựng Manon ở Paris. Kể từ đó Manon chưa bao giờ rời khỏi kịch mục, và khi tôi viết những dòng này, tác phẩm đã đạt tới buổi biểu diễn thứ 763.

Vào đầu năm đó Werther được trình diễn ở Vienne cùng vở ballet Tiếng chuông ngân [Le Carillon]. Các cộng sự được hoan nghênh là Des Grieux và Werther người Đức của chúng ta: Ernest Van Dyck và de Roddaz.

Một ngày nọ chính vào lúc tôi vừa trở về sau một chuyến lưu trú nữa ở Vienne mà người cộng sự trung thành và quý giá Louis Gallet của tôi đã đến thăm tôi tại Le Ménestrel. Các nhà xuất bản yêu mến của tôi đã sắp xếp cho tôi một phòng làm việc tuyệt vời ở đó, nơi tôi có thể cho các nghệ sĩ từ Paris cũng như từ khắp mọi nơi của mình tập vai. Louis Gallet và Heugel đề xuất với tôi một tác phẩm dựa trên Thaïs, cuốn tiểu thuyết đáng ngưỡng mộ của Anatole France.

Ý tưởng này ngay lập tức cuốn hút tôi hoàn toàn. Tôi có thể mường tượng Sanderson trong vai Thaïs. Cô thuộc biên chế Nhà hát Opéra-Comique nên tôi sẽ sáng tác cho nhà hát này.

Rốt cuộc mùa xuân cũng cho phép tôi tới bờ biển, nơi tôi luôn thích sống. Tôi rời Paris cùng vợ và con gái, mang theo phần tác phẩm đã sáng tác được với bao niềm hạnh phúc.

Tôi đem theo một người bạn không bao giờ rời xa mình cả ngày lẫn đêm, một con mèo Angora kếch xù với bộ lông xám dài mịn mượt.

Tôi ngồi làm việc bên một chiếc bàn lớn đặt trước hiên nhà, nơi sóng biển chốc chốc lại vỗ mạnh và tung bọt trắng. Con mèo, gần như nằm đè lên đám giấy tờ trên bàn với vẻ sỗ sàng khiến tôi thích thú, không thể chịu đựng được tiếng ì oạp lạ lẫm và ồn ào đến thế, và cứ mỗi đợt sóng vỗ nó lại duỗi chân và giơ móng vuốt như muốn đẩy lui sóng biển!

Tôi biết một người yêu mèo, không yêu nhiều hơn nhưng cũng ngang bằng tôi, đó là nữ bá tước Marie de Yourkevitch duyên dáng, người đã giành được huy chương vàng lớn môn piano tại Nhạc viện Hoàng gia Saint Petersburg. Cô đã sống ở Paris được vài năm trong một căn hộ sang trọng, nơi cô sống giữa một bầy chó mèo là những người bạn tuyệt vời của cô.

“Ai yêu động vật thì cũng yêu con người”, và chúng ta biết rằng nữ bá tước đáng mến là một nhà bảo trợ đích thực cho các nghệ sĩ.

Thi sĩ tuyệt vời Jeanne Dortzal cũng là một người bạn của những con vật yểu điệu có đôi mắt xanh thẳm sâu và bí ẩn; chúng là bạn đồng hành trong những giờ anh làm việc!

…

Tôi hoàn thành Thaïs tại phố Général-Foy, trong phòng mình, nơi chẳng có gì phá vỡ sự im lặng ngoại trừ tiếng lách tách của những khúc củi Giáng sinh đang cháy trong lò sưởi.

Vào thời đó tôi không có một đống thư từ phải trả lời như hiện nay; tôi không nhận được một lượng lớn sách mà mình phải đọc qua để cảm ơn tác giả; tôi cũng chưa bị cuốn hút bởi những buổi diễn tập liên miên; và cuối cùng tôi vẫn chưa phải trải qua cuộc sống mà tôi sẵn lòng gọi là địa ngục nếu chẳng có thói quen không ra khỏi nhà vào buổi tối.

Vào sáu giờ sáng, tôi phải đón tiếp một anh thợ mát-xa. Tôi cần có sự chăm sóc của anh vì một chứng thấp khớp ở tay phải. Tôi đã hơi phiền toái vì căn bệnh ấy.

Ngay vào cái giờ sớm sủa ấy tôi đã làm việc được một hồi lâu và anh thợ mát-ma tên là Imbert này, người được mọi khách hàng của mình rất yêu mến, đã mang đến cho tôi lời chào từ Alexandre Dumas con, chủ nhân ngôi nhà mà anh vừa rời khỏi. Anh đã làm nhiệm vụ tương tự với người đồng nghiệp lừng lẫy của tôi ở Học viện, và khi đến nhà tôi, anh bảo: “Tôi bỏ lại ông chủ với những ngọn nến thắp sáng, bộ râu đã xén tỉa và ăn bận thoải mái trong bộ đồ nỉ trắng.”

Một sáng nọ, anh mang đến cho tôi mấy dòng phúc đáp của Alexandre Dumas về lời trách móc mà tôi đã cho phép mình nói với ông:

“Hãy thừa nhận rằng anh đã tưởng tôi quên anh, hỡi kẻ ít đức tin!
“A. Dumas.”

Chúa Kitô sẽ không nói bất cứ điều gì khác với các môn đệ yêu quý của mình.

Thi thoảng và với tôi đó là một cách giải khuây thú vị, tôi đã soạn Chân dung Manon, opéra một màn với libretto của Georges Boyer, người cũng đã cung cấp cho tôi libretto Những đứa trẻ.

Những người bạn tốt của tôi, Auguste Gain, nhà điêu khắc động vật nổi tiếng và người vợ thân yêu của ông, đã rất hào phóng giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn, và tôi rất vui mừng được hoan nghênh kịch bản đầu tay của con trai họ, Henri Cain. Thành công của Cô bán căng-tin [La Vivandière] càng khẳng định tài năng của cậu. Âm nhạc của vở opéra comique ba màn này là khúc hát thiên nga của Benjamin Godard thiên tài. A! người nghệ sĩ lớn thân mến, người ngay từ thời thơ ấu đã là một thi sĩ đích thực, ở những ô nhịp đầu tiên mình viết! Ai mà chẳng nhớ kiệt tác Le Tasse của anh?

Một ngày nọ khi đang đi dạo trong khuôn viên cung điện u sầu của Công tước Este ở Ferrara, tôi đã hái một cành trúc đào đang nở hoa và gửi cho bạn. Món quà khiến tôi nhớ đến khúc song ca không gì sánh kịp từ màn đầu của Le Tasse.

Vào mùa hè năm 1893, tôi cùng vợ đến sống ở Avignon. Thành phố của các Giáo hoàng, “vùng đất của Giáo hoàng”, như Rabelais đã nói, hẳn đã hấp dẫn tôi cũng nhiều như một thành phố khác của các Giáo hoàng là La Mã cổ đại.

Chúng tôi ở Khách sạn Âu châu tuyệt vời tại Quảng trường Grillon. Chủ nhà của chúng tôi, ông bà Ville, những người rất đáng kính và ân cần, hết sức quan tâm đến chúng tôi. Điều này rất cần thiết với tôi bởi tôi cần sự yên tĩnh khi viết Cô gái xứ Navare [La Navarraise], công việc mà Jules Claretie đã giao phó cho tôi và người cộng sự mới của mình là Henri Cain.

Chiều chiều vào lúc năm giờ, các vị chủ nhà, những người đã canh cửa phòng tôi suốt cả ngày với sự tận tâm đáng ghen tị, phục vụ chúng tôi bữa ăn nhẹ ngon lành. Các thi sĩ Provence bạn tôi tụ tập xung quanh và trong số họ có Félix Gras, một trong những người bạn đầu tiên và thân thiết nhất.

Một hôm chúng tôi quyết định đi thăm Frédéric Mistral, thi sĩ bất tử của xứ Provence, người đã góp phần rất lớn vào sự hồi sinh của ngôn ngữ thi ca miền Nam.

Ông bà Mistral tiếp đón chúng tôi tại ngôi nhà ở Maillane, nơi được lý tưởng hóa bằng sự có mặt của ông. Trong lúc trò chuyện, ông tỏ rõ là mình sở hữu không chỉ khoa học về hình thức này mà cả kiến thức tổng quát vốn tạo nên một nhà văn lớn và một thi sĩ kiêm nghệ sĩ! Khi nhìn ông, chúng tôi nhớ đến Mỹ nhân tháng Tám [Belle d’août], truyện thơ đầy nước mắt và nỗi kinh hoàng, rồi đến trường ca Mireille cùng biết bao tác phẩm khác đã khiến ông nổi danh.

Phải, qua dáng đi và sức vóc đẹp đẽ này, ta cảm thấy rõ ông là một đứa con của thôn quê, nhưng ông là một quý ông nông dân, một quý ông nông dân như người Anh vẫn nói; vì thế ông chẳng còn là nông dân nữa, như ông đã viết cho Lamartine rằng Paul-Louis Courier, cây bút châm biếm xuất sắc và hóm hỉnh, chẳng còn là người trồng nho nữa.

Chúng tôi trở lại Avignon, thấm đẫm vẻ quyến rũ khó tả và bao trùm của những giờ phút mình đã trải qua trong ngôi nhà của thi sĩ vĩ đại lừng danh này.

Mùa đông tiếp theo hoàn toàn dành cho các buổi diễn tập Thaïs tại Nhà hát Opéra. Tôi nói là tại Nhà hát Opéra mặc dù tôi đã viết tác phẩm cho Nhà hát Opéra-Comique, nơi Sanderson thuộc về. Cô đã thắng lợi ở đó trong Manon ba lần một tuần.

Hoàn cảnh nào đã khiến tôi thay đổi nhà hát? Đó là vì Sanderson, người bị ý tưởng gia nhập Nhà hát Opéra mê hoặc, đã cho phép mình ký hợp đồng với Gailhard mà không bận tâm báo trước cho Carvalho.

Heugel và tôi ngạc nhiên biết bao khi Gailhard thông báo với chúng tôi rằng mình sẽ dàn dựng Thaïs tại Nhà hát Opéra cùng với Sibyl Sanderson! “Anh có nữ nghệ sĩ, tác phẩm sẽ đi theo cô ấy!” Tôi chẳng biết đáp lại sao nữa. Tuy nhiên tôi vẫn nhớ những lời trách móc rất đắng cay mà Carvalho nhằm vào tôi. Ông gần như buộc tội tôi vô ơn, và có Chúa mới biết tôi có đáng bị như vậy không!

Thaïs được trình diễn bởi các nghệ sĩ: Sibyl Sanderson, J.-F. Delmas, người biến Athanaël thành một trong những vai diễn quan trọng nhất của anh; Alvarez, người nhận lời đóng vai Nicias, và bà Héglon, người làm tương tự với vai diễn được giao cho mình.

Những lúc ngồi cuối khán phòng vắng vẻ mà nghe các buổi tổng duyệt, tôi hồi tưởng lại niềm ngây ngất của mình khi ở trước di hài Thaïs d’Antinoë, bên cạnh di hài ẩn sĩ, người vẫn quấn trong tấm áo sợi canh hành xác và người đã bị mê hoặc bởi vẻ duyên dáng và quyến rũ của nàng. Nhờ một tủ kính ở Bảo tàng Guimet mà chúng ta có được vở diễn ấn tượng được dàn dựng khéo léo để thu hút trí tưởng tượng này.

Một ngày trước buổi tổng duyệt Thaïs, tôi trốn khỏi Paris và lên đường đến Dieppe và Pourville, với mục đích duy nhất là được ở một mình và thoát khỏi sự nhộn nhịp của thành phố lớn. Tôi từng kể rằng mình luôn giải phóng bản thân khỏi những phập phồng bất trắc vẫn lượn lờ trên mọi tác phẩm khi nó lần đầu ra mắt công chúng. Có bao giờ ta biết trước được thứ cảm xúc mà nó sẽ khuấy động nơi công chúng, những thành kiến hay niềm đồng cảm mà công chúng sẽ có về nó, những gì có thể thu hút công chúng đến với một tác phẩm hay khiến công chúng quay lưng lại? Tôi cảm thấy yếu đuối trước điều bí ẩn đáng gờm này; nếu có được sự bình tâm gấp ngàn lần thì tôi cũng chẳng muốn trực tiếp khám phá điều bí ẩn!

Một ngày sau khi trở về Paris, tôi được hai giám đốc Bertrand và Gailhard của Nhà hát Opéra đến thăm. Họ có vẻ kiệt quệ. Tôi chỉ có thể nhận được từ họ những tiếng thở dài, đôi ba lời vắn tắt mà với tôi nói lên rất nhiều: “Báo chí!… tệ quá!… Đề tài vô luân!… Hết rồi!…” Chừng ấy từ ngữ là chừng ấy manh mối về cái hẳn là kết quả của buổi biểu diễn.

Tôi tự nhủ như vậy, thế nhưng mười bảy năm đã trôi qua mà tác phẩm vẫn chưa rời khỏi áp phích và được trình diễn ở các tỉnh cũng như ở nước ngoài; và chính tại Nhà hát Opéra, từ lâu Thaïs đã vượt qua buổi diễn thứ một trăm.

Chưa bao giờ tôi lại ân hận đến thế khi để mình phải trải qua một giây phút chán nản. Đúng là nỗi chán nản này chỉ nhất thời. Liệu tôi có thể ngờ rằng định mệnh của mình là được nhìn thấy chính tổng phổ này của Thaïs, đề năm 1894, trong phòng khách của mẹ Sibyl Sanderson, trên giá nhạc của chính cây piano mà chúng tôi đã sử dụng để luyện tập khi mà người nghệ sĩ xinh đẹp từ lâu đã không luyện tập nữa?…

Để công chúng quen dần với tác phẩm, các giám đốc Nhà hát Opéra đã kết hợp nó với một vở ballet trong kịch mục. Sau đó, khi thấy tác phẩm được ưa thích và để biến nó thành tác phẩm duy nhất của đêm diễn, Gailhard nảy ra ý tưởng yêu cầu tôi bổ sung cảnh Ốc đảo và một đoạn ballet vào màn ba. Chính cô Berthet là người diễn cảnh mới này và Zambelli được giao nhiệm vụ thể hiện đoạn ballet mới.

Về sau, những người diễn vai này ở Paris là các cô Alice Verlet, Mary Garden và bà Kousnezoff. Nhờ họ mà tôi có được những đêm diễn tuyệt vời ở Nhà hát Opéra. Geneviève Vix và Mastio sắm vai này ở các thành phố khác. Dịp khác tôi sẽ nói về Lina Cavalieri, bởi cô là người đầu tiên diễn vai này ở Milan vào tháng 10 năm 1903. Bản dàn dựng này được thực hiện khi tôi đến Ý lần gần đây nhât.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch