opera rossini il berbiere di siviglia phụ đề tiếng Việt

Giới thiệu

“Đừng bao giờ cố viết gì khác ngoài opera buffa (opera hài)”, Beethoven đã có lời khuyên dành tặng nhà soạn nhạc trẻ người Ý đang được chú ý đương thời với vở opera “Il barbiere di Sigvilia” (Người thợ cạo thành Sevilla), Gioachino Rossini, ngay trong lần đầu tiên gặp mặt. Và đó có lẽ nó là lời khuyên chí lí nhất dành cho nhà soạn nhạc opera Bel canto tài năng này, mà có lẽ đến cuối sự nghiệp không chắc ông đã nhận ra đc. Tác phẩm tâm huyết nhất của Rossini “Guillaume Tell” – vở opera mang đầy chất anh hùng ca đã không nhận được sự nhìn nhận đúng đắn từ phía khán giả, nhưng “Il barbiere” thì lại luôn được đón nhận, được dàn dựng nhiều nhất kể từ khi nó ra đời và nhanh chóng trở thành “vở opera buffa của mọi opera buffa”.

Các trích đoạn nổi tiếng của “Il barbier” đã trở nên quá quen thuộc với người bình thường, đặc biệt là bản aria “Largo al factotum” – gần như được coi là 1 aria “Thái sơn đỉnh” đối với bất cứ baritone nào. Sự thú vị của “Largo al factotum” là ở chỗ nó vốn là một aria cực kỳ khó (nếu ko muốn nói nằm trong số những aria khó nhất của baritone), nhưng lại phải được thể hiện một cách hài hước, duyên dáng và sinh động.

Không chỉ là một trong những vở opera được yêu thích nhất thế giới, “Il barbiere” còn được coi là đại diện tiêu biểu nhất của trường phái “Opera bel canto” lừng lẫy đầu thế kỉ XIX. “Bel canto” – hát đẹp – là nghệ thuật hát truyền thống của người Ý, vốn xuất hiện từ thời kỳ Baroque. Đến thời kỳ Lãng mạn, Rossini cùng với hai người đàn em – V.Bellini và G.Donizetti đã phục sinh nó trở lại bằng những tác phẩm opera xuất chúng, mang lại một dấu ấn mạnh mẽ không chỉ đối với Opera Ý mà còn là cả nền nghệ thuật thanh nhạc cổ điển Châu Âu sau này. Nghệ thuật hát hoa mỹ Bel canto gần như được coi là nền móng cơ sở của nghệ thuật thanh nhạc cổ điển phương tây. Tóm lại, nếu để giải thích Bel canto Opera là gì, có lẽ cách đơn giản nhất là mời các bạn xem “Norma”, ” L’elisir d’amore” và dĩ nhiên ko thể bỏ sót, “Il barbiere di Siviglia”.

Cũng xin được nói thêm, người đầu tiên hát vai Bá tước Almaviva chính là tenor ngôi sao Manuel Garcia người sau này đồng thời cũng là một nhà sự phạm thanh nhạc tài năng. Garcia có 3 người con, do ông trực tiếp truyền dạy, đều trở thành 3 tên tuổi lớn: Maria Malibran (người được coi là Prima donna nổi tiếng nhất thế kỉ XIX), Pauline Viardot (nghệ sỹ opera xuất chúng, có vai trò quan trọng đối với trường phái thanh nhạc Pháp) và đặc biệt là Garcia II – người đã kế thừa tinh hoa từ cha mình, theo đuổi ngành sư phạm thanh nhạc và thiết lập nên một hệ phái lừng lẫy (mà những huyền thoại xuất phát từ hệ phái này có thể kể đến như: Jenny Lind, Christina Nilsson, Nellie Melba, Beverly Sills,… và thậm chí là cả Joan Sutherland).

Nội dung

Câu chuyện xoay quanh Figaro, một chàng thợ cạo vui tính ở vùng Siviglia. Gọi là thợ cạo, nhưng có vẻ chàng giống như chân chạy việc vặt hơn, ai gọi là chàng có, việc khó có chàng lo. Một lần nọ, chàng ra tay hiến kế giúp cho Bá tước Almaviva và cô nàng Rosina qua mặt Bartolo, người giám hộ của Rosina, để hai người đến được với nhau… Và từ đó xảy ra những tình huống dở khóc dở cười. Cùng xem những mưu mẹo mà cậu chàng bày ra, và liệu đôi trẻ có đến được với nhau?

Phiên bản

Đây là bản phim năm 1973 của đạo diễn Jean-Pierre Ponnelle. Phiên bản này cũng luôn được coi là kinh điển của vở opera này, đặc biệt là dàn cast thượng thăng gồm Herman Prey, Teresa Berganza, Luigi Alva, Enzo Dara dưới sự chỉ huy của Maestro Ý xuất chúng Claudio Abbado cùng dàn nhạc và hợp xướng của nhà hát La Scala. Phần soundtrack của bộ phim này được lấy từ bản studio recording (với đội hình tương tự) của hãng DG, được thực hiện trước đó 1 năm. Dù có thể thẩm mỹ hát của một số nghệ sỹ không còn được cho là hợp thời, tuy vậy sự duyên dáng, tinh tế trong trình diễn cũng như vẻ đẹp âm thanh giọng hát tuyệt vời của các ca sĩ đỉnh cao đủ khiến cho bản thu âm này được coi là mẫu mực và luôn nằm trong danh sách những bản thu âm opera complete hay nhất mọi thời đại.

“Il barbiere” có 2 màn, tuy nhiên do thời lượng màn I quá dài nên chúng tôi sẽ giới thiệu vở opera tách ra thành 3 phần: Màn I – Cảnh 1, Màn I – cảnh 2 và Màn II. Cảnh đầu tiên của Màn I chứa nhiều trích đoạn nổi bật như bản cavatina duyên dáng (và cũng siêu khó) ngay lúc mở đầu của Bá tước Almaviva: “Ecco ridente in cielo”, khúc serenade ngọt ngào “Se il mio nome” (thực ra vốn là sáng tác của Bellini), bản duet vui nhộn của Bá tước và Figaro: “All’idea di quel metallo” và đặc biệt là bản aria đinh “Largo al factotum”.

Opera phụ đề Việt ngữ

Màn 1

Cảnh 1

Cảnh 2

Màn 1 – Cảnh 2 là phần thú vị nhất về mặt âm nhạc trong vở, số lượng các trích đoạn nổi tiếng xuất hiện khá dày đặc: “La calunnia” trích đoạn yêu thích của phần lớn các giọng bass, bản aria hài hước (và hát cũng khá là …trẹo lưỡi) viết cho bass-buffo: “A un dottor della mia sorte”, “Dunque io son” – khúc duet rất thường xuyên xuất hiện trong các concert chung của baritone và soprano/mezzo và đặc biệt là “Una voce poco fa” – cavatina kinh điển của bất cứ giọng nữ màu sắc nào.

Nguyên bản Rosina viết cho contralto, nhưng theo thời gian, vai diễn này chủ yếu được thể hiện bởi các mezzo hoặc soprano màu sắc. “Una voce poco fa” bản thân đã vốn là một aria không dễ, với rất nhiều đòi hỏi về kĩ thuật bel canto cầu kỳ, nhưng các ca sĩ virtuoso còn thường xuyên phô diễn những phần điểm note hoa mĩ (ornaments) khác lạ để nó thêm phần ấn tượng. Khi nghe giọng soprano ngôi sao Adelina Patti hát aria này, Rossini đã mỉa mai: “Cô hát hay đấy, nhưng nó không phải âm nhạc của tôi”. Phần thể hiện của Teresa Berganza trong bản ghi âm này tương đối giản dị, hầu như tuân theo tổng phổ, hạn chế thực hiện ornaments nhưng bù lại bà hát rất tinh tế, thanh nhã và giọng hát với âm sắc đẹp khó có thể phủ nhận.

Màn 2

Màn 2 tuy thực sự không nhiều trích đoạn nổi bật như màn đầu tiên, dầu vậy nó cũng đã giải quyết những nút thắt bày ra ở màn 1 gọn ghẽ, hợp lý, và đương nhiên, âm nhạc đầy cuốn hút của Rossini sẽ không bao giờ khiến chúng ta thất vọng, cho đến tận khi tấm màn sân khấu thực sự khép lại.

Dù những aria quan trọng tập trung ở màn I, nhưng trong màn II, cũng có một vài trích đoạn đáng lưu ý như “lesson scene”, bản aria khá dễ thương của cô hầu Bertha và đặc biệt là khúc aria hoa mĩ cực kỳ khó của Bá tước, đến mức mà nó thường bị cắt đi trong nhiều dàn dựng thực tế: “Cessa di più resistere” (trong bản phim này, bản aria cũng bị cắt bỏ có lẽ vì nó vượt quá cữ âm thoải mái của Luigi Alva). Rossini cũng tái sử dụng bản aria của Công tước trong rất nhiều vở opera khác sau này của ông cho các loại giọng khác và phiên bản nổi tiếng nhất chính là khúc rondon finale: “Non più mesta” trong vở “La Cenerentola”.

Bình luận Facebook