Gần đây có một vài tranh luận trong việc sáng tác lời cho bài hát (aria trong opera hay lời hát trong ca khúc) tiếng Việt. Âm vị học trong tiếng Việt khá phức tạp, vì thế chúng tôi muốn tiếp cận theo hướng bản chất của âm thanh và âm sắc khi phát âm để mọi người có thể hiểu được các vấn đề cốt lõi khi chọn một từ cho một nốt hay câu nhạc cụ thể trước khi bàn về các khía cạnh khác. Nội dung này được lấy từ sách “Âm thanh lập thể: nguyên lý và công nghệ” của Trần Công Chí tại “Phần thứ ba: Nguồn âm”.
Do hình minh hoạ 3.51 chưa rõ ràng lắm nên chúng tôi có bổ sung thêm một biểu đồ khác mô tả phát âm 6 thanh điệu với trục dọc là cao độ và trục ngang là thời gian phát âm. Ta có thể thấy sự biến đổi cao độ của dấu “ngã” và dấu “hỏi” có sự tương đồng nên 1 số địa phương hay phát âm nhầm các dấu này. Và 2 dấu này nên giao vào các nốt trang trí sẽ hợp lý hơn các nốt bình thường.
—————————-

TIẾNG NÓI

Cấu trúc âm thanh

Thành phần cấu tạo nên tiếng nói bao gồm nguyên âm và phụ âm. Nguyên âm là thành phần tạo nên “tính nhạc” cho tiếng nói; nó bao gồm những phổ tần (phổ vạch) là hài âm của tần số cơ bản (tức tần số tạo ra độ cao âm thanh của tiếng nói), trong đó có những vùng tần số được khuếch đại đặc biệt tùy thuộc vào sự cộng hưởng của các khoang rỗng kể trên. Những vùng tần số đặc biệt này luôn luôn tồn tại mà không phụ thuộc vào tần số gốc, tức là không phụ thuộc vào độ cao âm thanh; giọng nam hay giọng nữ phát âm vẫn tạo ra những vùng tần số đặc trưng đó. Ta gọi đó là các phoócmăng. Mỗi nguyên âm thường được đặc trưng bởi 2 phoócmăng riêng biệt của nó, nhờ chúng mà ta phân biệt được các nguyên âm (a, i hay ô, …) ( hình 3.49). Để có thể chuyển tải được các thông tin của nguyên âm không bị sai lệch chỉ cần một dải tần khoảng 3600 Hz (dải thông của điện thoại!).
Các phụ âm hữu thanh (L,M,N,NG,R) chứa đựng một phần phổ vạch và một phần phổ liên tục – tức phổ của tạp âm, nghĩa là các âm tố còn phần nào mang chất “thanh nhạc”, và do đó có thể hát được với những cao độ khác nhau. Các phụ âm vô thanh, bao gồm phụ âm “nổ” (thí dụ p, ph, t, th, … ) và phụ âm gió (thí dụ s, x, kh, …) chỉ chứa đựng các thành phần phổ tạp âm, song đôi khi cũng chứa đựng những cấu trúc có tính phóocmăng. Nhìn chung các phụ âm có phổ tần ở vùng cao hoặc rất cao nhưng năng lượng lại nhỏ so với nguyên âm (có khi chi bàng 1:1000) (hình 3.50), song nó có ý nghĩa quyết định đối với độ rõ của tiếng nói (độ rõ âm tiết, độ rõ của từ, độ rõ câu). Làm sai lệch thông tin của các làm giảm độ rõ của tiếng nói rất nhiều, dễ nhằm giữa từ này với từ nọ, giống như trường hợp cắt bỏ các dao động khởi âm của các nhạc khí có thể nghe nhầm tiếng đàn nọ thành tiếng đàn kia (xem mục 11.1). Các phụ âm nổ và phụ âm gió với thành phần tần số rất cao, trên 10.000 Hz thường tạo nên các luồng hơi mạnh làm bão hòa tín hiệu thu thanh.
Trong cấu tạo tiếng Việt có những hiện tượng đặc biệt ảnh hưởng tới âm thanh của tiếng nói, đó là các nguyên âm đôi (diphthong) hoặc nguyên âm ghép và các dấu thanh điệu. Khi phát âm các nguyên âm đôi hoặc nguyên âm ghép, phoócmăng sẽ trượt từ nguyên âm nọ sang nguyên âm kia, thí dụ từ O sang E thành OE (trong từ KHOE), âm thanh sáng dần; hay từ I sang U thành IU (trong từ LÍU LO), âm thanh tối dần.
Các dấu thanh điệu (huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã và dấu ngang hay không dấu) làm thay đổi độ cao âm thanh và đôi chút âm sắc chứ không làm biến đổi phoócmăng các nguyên âm.
Một cách đại cương ta có thể hình dung sự biến đổi cao độ do các dấu thanh điệu của tiếng Việt biểu diễn trên hình 3.51. Cần lưu ý rằng, độ cao âm thanh ở đây không mang giá trị tuyệt đối, nhưng lại có giá trị tương đối khá chặt chẽ về quan hệ giữa các dấu thanh điệu hay kết cấu của câu. Làm thay đổi mối tương quan đó sẽ làm giảm độ rõ, thậm chí làm sai lệch hoàn toàn ý nghĩa của câu nói điều mà ta có thể gặp ở những người ngoại quốc nói tiếng Việt. Chính nhờ những dấu thanh điệu này mà tiếng Việt “nói như hát” – nghĩa là tự nó đã có “giai điệu” – như nhiều người nước ngoài đã nhận xét.
Cũng chính vì mối quan hệ rất chặt chẽ về giá trị tương đối của cao độ các dấu thanh điệu trong khi nói, nên khi sáng tác nhạc có lời (ca khúc) hay phổ nhạc cho các bài thơ cần hết sức lưu ý tới đặc điểm âm thanh này của tiếng Việt; nếu không sẽ làm giảm độ rõ của lời ca thậm chí trái nghĩa. Giai điệu ngược dấu với lời ca là điều cần hết sức “kiêng kỵ”, cho dù trong kỹ thuật thông tin, tiếng nói có một độ dư (redundance) rất lớn. Trong những trường hợp này, kỹ thuật âm thanh cũng không có cách nào hỗ trợ để nâng cao độ rõ.