Tác giả: Franz Schubert.
Tác phẩm: Sonata piano số 13 giọng La trưởng, Op. 120 (D. 664)
Thời gian sáng tác: Tháng 7/1819.
Độ dài: Khoảng 23 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho Josephine von Koller.
Tác phẩm có 3 chương:
Chương I – Allegro moderato (La trưởng)
Chương II – Andante (Rê trưởng)
Chương III – Allegro (La trưởng)

Đầu tháng 7/1819, Schubert rời khỏi cái nắng và khói bụi của Vienna để cùng với người bạn của mình, giọng nam trung Johann Michael Vogl đi tham quan vùng thượng Áo. Đích đến của cuộc hành trình là Steyr, một thị trấn nằm dưới chân dãy Alps, phía Nam của Linz và cách Vienna khoảng 80 dặm về phía Tây. Đây chính là quê hương của Vogl và là nơi ông trở về mỗi mùa hè. Schubert vô cùng thích thú với chuyến đi, ông đã viết thư kể với anh trai mình Ferdinand rằng vùng nông thôn này “đẹp không thể tưởng tượng nổi”. Tại Steyr, Vogl đã giới thiệu Schubert với Sylvester Paumgartner, người bảo trợ nghệ thuật chính của vùng, một nghệ sĩ cello nghiệp dư giàu có và rất hâm mộ âm nhạc của Schubert. Nhà của Paumgartner là địa điểm thường xuyên diễn ra các sự kiện âm nhạc địa phương – các bữa tiệc âm nhạc mang tính cá nhân được tổ chức trong phòng hoà nhạc ở tầng một và một salon lớn ở tầng trên, được trang trí bằng các biểu tượng âm nhạc và chân dung của các nhà soạn nhạc đồng thời chứa bộ sưu tập đáng kể các nhạc cụ và bản nhạc của Paumgartner, được sử dụng cho các buổi hòa nhạc. Schubert đã dành tặng cho Paumgartner bản ngũ tấu “Cá hồi” của mình.

Cũng tại đây, chàng trai Schubert 22 tuổi đã được Paumgartner giới thiệu với Josephine von Koller, một cô gái địa phương xinh đẹp, 18 tuổi. Schubert hào hứng kể với anh trai mình: “Cô ấy rất xinh, chơi piano giỏi và sẽ hát một số bài hát của em”. Dành tặng cho Josephine, Schubert đã sáng tác một trong những bản nhạc đẹp nhất đời mình, bản sonata piano giọng La trưởng, D. 664. Tháng sau đó, Schubert quay trở lại Vienna và Josephine không còn xuất hiện trong cuộc đời của Schubert nữa. Tuy nhiên, bản sonata là lời thú nhận đáng yêu cho một sự rung động dịu dàng của tuổi trẻ và một hình bóng xinh đẹp từng đi qua cuộc đời của nhà soạn nhạc.

Về mặt cấu trúc, tác phẩm 3 chương này không có gì độc đáo hay quá khác biệt so với những bản sonata piano khác của Schubert. Hình dáng chính thức hoàn toàn Cổ điển, tuy nhiên tâm trạng cantabile của tác phẩm, đặc biệt trong chương đầu tiên cho thấy sự chuyển đổi thoải mái của Schubert từ chủ nghĩa Cổ điển của thần tượng Beethoven sang chủ nghĩa Lãng mạn thời kỳ đầu của Đức.

Chương I ở hình thức sonata. Chủ đề chính mở đầu ngay tác phẩm là một trong những giai điệu đẹp, dịu dàng và lãng mạn nhất của Schubert. Có lẽ lúc này, hình bóng Josephine đang tràn ngập trong tâm trí chàng trai trẻ. Chủ đề hai không mang tính tương phản, vẫn mang một không khí nhẹ nhàng, trữ tình với phần đệm là những chùm ba, bắt đầu ở chủ âm và rồi được chuyển sang âm át, mang cảm giác liên tục trong toàn bộ phần giới thiệu. Chương nhạc cân đối, phần phát triển ngắn nhưng đầy ắp sự kiện, bắt đầu với khoảnh khắc kịch tính nhất trong tác phẩm khi thang âm tăng lên với các chùm ba xuất hiện ở quãng tám với một sự hung hăng bất ngờ. Cao trào này lắng xuống và nhường chỗ cho một đoạn độc thoại lặng lẽ. Đoạn mở đầu của phần tái hiện được giới thiệu bằng cách tham chiếu tới câu thứ hai của chủ đề chính, được chuyển thành giọng thứ, tạo ra một sự liên lạc thú vị khác thường đối với sự trở lại sau đó của giai điệu mở đầu tác phẩm. Chương nhạc khép lại với phần coda ngắn gọn có sự xuất hiện của chủ đề đầu tiên với hoà âm nhẹ nhàng, hoài cổ.

Chương II Andante ở giọng Rê trưởng, có một chút tương phản nhẹ nhàng với phong thái dịu dàng, trữ tình của chương I. Âm nhạc mang hương vị đồng quê, thanh bình và tĩnh lặng. Rõ ràng, khung cảnh “đẹp không thể tưởng tượng nổi” của vùng Steyr đã được Schubert khắc hoạ trong chương nhạc này. Âm nhạc được xây dựng xung quanh một chủ đề mơ mộng duy nhất với nhịp điệu 1 nốt dài với 4 nốt ngắn theo sau. Không khí êm đềm này chỉ bị phá vỡ trong chốc lát ở phần giữa cao trào của chương nhạc rồi nhanh chóng trở về tâm trạng ban đầu.

Chương cuối mang nhiều năng lượng nhất trong tác phẩm. Chương nhạc ở hình thức sonata đầy đủ được vận hành một cách mạch lạc, trôi chảy, không có cao trào thực sự mạnh mẽ ở phần phát triển. Các chủ đề sống động, sôi nổi “như một điệu waltz thành Vienna được khiêu vũ trên thiên đường”. Chương nhạc tràn ngập không khí vui tươi, hồ hởi, chủ đề đầu tiên mở đầu tác phẩm thoáng xuất hiện trở lại. Chủ đề chính đầu tiên xuất hiện trong phần coda, khép lại một trong những tác phẩm đáng yêu nhất của Schubert.

Giống như nhiều bản nhạc khác của Schubert, tác phẩm này chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời và đôi khi được gọi là bản sonata La trưởng “nhỏ” để phân biệt với bản sonata cùng giọng D. 959 được sáng tác sau đó. Được sáng tác trong giai đoạn thanh xuân, tràn ngập sức sống của Schubert, bản sonata “nhỏ” này mang những đặc trưng tiêu biểu nhất của ông: không quá thách thức về mặt kỹ thuật, cấu trúc không quá phức tạp nhưng chứa đựng rất nhiều giai điệu đẹp, đầy biểu cảm. Không hề đơn giản đối với những nghệ sĩ piano khi biểu diễn những bản sonata piano của ông như nhà phê bình âm nhạc Jacob Siskind đã nhận xét: “Khó khăn với hầu hết các tác phẩm của Schubert nhưng đặc biệt chính xác với các bản sonata piano của ông là phải dung hòa sự đơn giản trong cấu trúc vào dòng chảy bất tận của giai điệu với cảm xúc căng thẳng được tạo ra giữa các mối quan hệ đầy khiêu khích của các phần khác nhau. Ở những nghệ sĩ bình thường, âm nhạc có thể nghe đơn điệu hoặc rời rạc một cách khó hiểu. Trong tay của một bậc thầy có chiều sâu cảm xúc để nhận biết hoàn toàn những bí ẩn của âm nhạc, những tác phẩm này có khả năng chữa lành những vết thương tình cảm sâu sắc nhất.”

Cobeo