Một chương trình giới thiệu về nhạc Jazz với một tác phẩm cực kỳ thú vị với phong cách giống như “Peter và chó sói”. Trong chương trình này Bernstein sẽ đóng vai trò là người dẫn truyện và nhường phần chỉ huy cho một người khác

Biên soạn do Leonard Bernstein
Được phát lần đầu trên đài CBS ngày 11/02/1964

Biên dịch: Ngọc Hà

Đã bao giờ các cháu muốn được nghe những giai điệu kiểu vậy chưa? Kiểu âm nhạc giống như phát ra từ chiếc radio của người hàng xóm sát vách, hay là nhạc hội Jazz Newport vậy. Ấy vậy mà âm thanh này đang xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn trong các khán phòng hòa nhạc ở Mĩ, kể từ khi các nhà soạn nhạc khởi xướng chúng, khoảng 40 năm trước, để tô điểm sự hào hứng và phong cách nhạc Jazz đặc trưng của văn hóa Mĩ trong âm nhạc giao hưởng.

Dẫu cho đã có nhiều người nỗ lực kết hợp Jazz vào các sáng tác giao hưởng, thì hai dòng nhạc này vẫn cứ tách biệt thành 2 thể loại sánh đôi như hai đường thẳng song song chẳng thể gặp nhau. Nhưng cũng có những tác phẩm thực sự nổi trội hơn cả, và hôm nay, chúng ta sẽ cùng thảo luận về một vài sáng tác tiêu biểu. Đây là những tác phẩm mà nhạc Jazz đã “len lỏi” vào thể loại giao hưởng, và nhanh chóng hòa quyện nhau một cách hoàn hảo. Và ít nhất là trong 5 năm vừa qua, có một “làn sóng mới” trong nền âm nhạc Hoa Kì mang tên “Third Stream” (một hợp thể của Jazz và Classical Music) kết hợp thể loại jazz cùng những thể loại khác những gì phức tạp và độc lạ thuộc chuỗi hệ thống 12 âm, hay còn gọi là âm nhạc phi điệu tính.

Người tiên phong cho thể loại Third Stream, đồng thời khai sinh ra cái tên này, là chàng trai trẻ Gunther Schuller. Gunther Schuller là một trong những nhạc sĩ đa tài, như Paul Hindemith, một thiên tài mà chúng ta có nhắc trong chương trình trước, chỉ khác ở điểm ngài là người Mĩ. Ngài Schuller viết nhiều thể loại nhạc khác nhau. Ngài vừa chỉ huy, giảng dạy, vừa biểu diễn. Có thể nói ngài đã thừa hưởng nhiều tài năng thiên bẩm từ người cha của mình. Một người nhạc sĩ tuyệt vời khác cũng góp mặt trong dàn nhạc của chúng ta. Xin được trân trọng giới thiệu Arthur Schuller.

Gunther Schuller tuy mới chỉ hơn 30 thôi nhưng đã được xem như là “trung tâm” trong vũ trụ các nhà soạn nhạc trẻ được ngưỡng mộ như người lãnh đạo và tiên phong.

Tôi cho rằng cách hoàn hảo để bắt đầu chương trình ngày hôm nay với chủ đề Jazz trong khán phòng hòa nhạc là biểu diễn một tác phẩm của Gunther Schuller. Một tác phẩm giống như nhập môn nhạc Jazz cho người trẻ. đại loại kiểu “Peter và chó sói” trong nhạc Jazz. Giống như “Peter và chó sói” được viết cho dàn nhạc, với một diễn giả. Tác phẩm này cũng kể về một cậu bé tên Peter. Điểm khác biệt là nó dành cho dàn nhạc giao hưởng có sự kết hợp của nhạc Jazz, và đó là lí do tại sao các cháu có thể thấy năm nghệ sĩ nhạc Jazz kì cựu phía sau tôi. Richard Davis với double bass. Don Elis với trumpet. Benny Golson với tenor saxophone. Eric Dolphy với alto saxophone. Và Joseph Cocuzzo chơi trống.

Và ngay bây giờ hãy cùng nhau chào đón Ngài Schuller, nhà soạn nhạc và chỉ huy tài hoa Tôi đã mời anh ấy chỉ huy tác phẩm của chính mình. Tôi sẽ lùi lại phía sau làm một diễn giả nhận hiệu lệnh từ anh ấy . Không lòng vòng thêm nữa, sau đây là tác phẩm thuộc thể loại Third Stream của Gunther Schuller, “Hành trình đến với nhạc Jazz,” với lời dẫn được chắp bút bởi nhà phê bình nhạc Jazz nổi tiếng, Nat Hentoff. Xin được nhiệt liệt chào mừng ngài Gunther Schuller.

Câu chuyện kể về Peter Parker, một cậu bé học nhạc Jazz.

Từ khi còn nhỏ Peter Parker đã cho thấy năng khiếu âm nhạc. Ví dụ như, khi cha mình hát, Peter ngâm nga. Khi mẹ hát, Peter líu lo theo.

Lên 5, Peter đã có chiếc kèn trumpet đồ chơi cho riêng mình. Năm 6 tuổi, Peter được làm quen với một chiếc máy hát nhỏ nhắn mà cũng ồn ào như cậu ta vậy. Sang 7, Peter được tặng thêm 1 chiếc radio bán dẫn để hỗ trợ cậu thỏa mãn đam mê âm nhạc.

Một ngày nọ, Peter dán một biển hiệu ngoài cửa phòng ngủ với lời nhắn: “Đang làm nhạc!” “Vui lòng không làm phiền!”

Cánh cửa phòng ngủ khóa trái. Và kể từ hôm ấy, bảng thông báo được treo lên cửa phòng ngủ đều đặn mỗi ngày từ 3 đến 6 giờ chiều. Ở phía sau cánh cửa, cha mẹ Peter có thể nghe thấy tiếng trumpet, hay máy hát chơi nhạc Prokofiev, đôi lúc lại là chiếc radio chơi nhạc Rossini.

Và thường thì có thể cả 3 được chơi cùng lúc.

Tiếng trumpet dĩ nhiên vẫn là to nhất.

Không lâu sau, Peter đã có một chiếc trumpet thật, và một giáo viên hướng dẫn có gu nhạc đầy thú vị như Peter. Cha mẹ Peter bắt đầu nghe thấy những âm giai. Những âm giai cơ bản ban đầu được rải lên chậm rãi rồi lại rải xuống, đôi khi có lặp lại, hoặc ngắt quãng giữa chừng.

Dần dần, các âm giai Peter đã trở nên phức tạp hơn, tốc độ hơn, và điêu luyện hơn trong kĩ thuật rải âm.

Từ các bài tập kĩ thuật, Peter tiến tới chơi các giai điệu thực thụ. Những giai điệu này khi thì nghe như một dòng suối nhỏ chảy róc rách, hoặc dòng sông sâu, êm đềm trôi, khi lại tựa bão tố dữ dội. Hoặc có thể là một thứ gì đó mà cha mẹ của Peter chẳng thể tưởng tượng ra nổi.

Peter đã giải thích cho cha mẹ rằng những giai điệu trừu tượng này được gọi là âm nhạc hiện đại.

Khi nghe vậy thì họ gật gù, dù chưa chắc họ đã hoàn toàn hiểu.

Chẳng bao lâu sau, Peter và giáo viên hướng dẫn của mình đã cùng song tấu. Dần dần, thật khó để có thể phân biệt âm thanh của hai người chơi này. Khi 14 tuổi, Peter đã trở thành một nghệ sĩ kèn trumpet nổi tiếng và xuất sắc. Không một bản nhạc nào có thể làm khó chàng trai trẻ.

Một buổi chiều hè nọ, dẫu cho đã để thông báo ngoài cửa, anh chàng lại không thể tập trung nổi dù không có ai gây xao nhãng.

Đâu đó, tại một căn nhà cùng khu phố, một ban nhạc nhỏ đang chơi Jazz.

Dẫn dắt các nhạc cụ khác là một người chơi tenor saxophone đang tạo ra âm thanh táo bạo hơn bất kì nghệ sĩ nào mà Peter từng nghe. Vì không thể ngăn được sự tò mò đang trỗi dậy mà Peter đã bị xao nhãng.

Chàng trai trẻ đã cầm trumpet ra khỏi phòng, rồi đi theo tiếng nhạc. Peter tìm thấy 4 thanh niên trẻ khác trong chiếc gara ở tòa nhà kế bên. Thấy Peter xách theo trumpet, ban nhạc này đã ngỏ ý mời chàng trai vào chơi nhạc cùng.

Peter nhìn đi ngó lại nhưng không thấy bản nhạc sẵn có nào cả. Dù đã rất cố gắng hòa vào ban nhạc nhưng vẫn có gì đó rất sai.

Peter không thể tìm được một vị trí phù hợp cho bản thân mình. Mỗi khi cố gắng hòa vào ban nhạc, âm thanh của anh cứ khục khặt được một chút rồi dừng hẳn. Peter căn bản không thể chơi theo band được.

Thế là người chơi tenor saxophone đã nhận xét rằng: “Anh có thể biết rất rõ về chiếc saxophone của mình, nhưng lại chưa hiểu nhạc jazz là thế nào”. Khi nào anh sẵn sàng, hãy quay lại nhé. Chúng tôi ở đây đợi anh.”

Peter buồn bã ra về. Nhưng kể từ giây phút ấy, Peter cũng trở nên vô cùng phấn khích với thứ âm nhạc mà anh nghe được trong gara. Peter đặc biệt chú ý đến những bản thu nhạc jazz đặc biệt là các bản thu âm kèn trumpet. Anh cũng sớm tìm thấy niềm vui mới thông qua việc chơi các tác phẩm cổ điển theo phong cách jazz.

Peter cũng nhận ra mỗi một nghệ sĩ trumpet lại chơi nhạc jazz theo phong cách của riêng mình.

Có thể so sánh với khi chúng ta nói chuyện đan xen tiếng lẩm bẩm, luyến ngắt, đôi khi gồm cả những nốt vi quãng.

Peter cũng khám phá niềm vui sự khác nhau của các tiếng bịt âm. Cuối cùng thì cũng tới ngày Peter Parker cảm thấy sẵn sàng. Anh chạy một mạch tới gara tòa kế bên. Nhưng khi bắt đầu chơi nhạc cũng những nghệ sĩ khác vẫn lại có một điều gì đó rất sai. Peter vẫn không thể nào hòa vào ban nhạc được. Dù có cố gắng đến mấy, kết quả cũng chẳng khấm khá hơn là bao. Chiếc kèn của Peter cứ thế lạc lõng trôi dạt khỏi ban nhạc. Peter không thể xác định được một vị trí phù hợp cho mình. Trong khi những người còn lại như thể đang đối thoại cùng nhau thì Peter lại như đang tạo ra một thứ ngôn ngữ ngoài hành tinh vậy. Peter nhìn chiếc trumpet của mình, nhưng chẳng có vấn đề gì cả. Anh nhìn sang những người còn lại thì ai cũng lắc đầu.

Lần này, người chơi tenor saxophone nói: “Giờ anh đã biết chơi nhạc jazz với chiếc kèn trumpet của anh nhưng cái anh không biết là làm sao để chơi với mọi người. Khi nào anh tìm ra “đáp án”, hãy quay lại nhé. Chúng tôi sẽ luôn ở đây.”

Peter lại buồn bã ra về. Suy ngẫm về những gì xảy ra, và Peter cuối cùng cũng nhận ra rằng: trong tất cả các bản thu âm anh đã nghe, anh mới chỉ chú tâm tới người chơi trumpet, mà chưa để ý xem những nhạc sĩ còn lại chơi gì. Nhờ đó mà Peter bắt đầu nghe lại các bản thu âm theo một cách mới mẻ. Peter học được cách hòa giọng với những nhạc cụ khác. Anh hiểu hơn về ứng tác với bè đối vị, cũng như những giai điệu sẽ hòa thanh với câu nhạc độc tấu của các nhạc cụ còn lại. Peter trước đó chỉ biết chơi kèn song song với ban nhạc, nay đã tìm ra cách tiến sâu hơn vào phần âm thanh để trở thành một phần của cuộc đối thoại. Dần dần, tiếng kèn của Peter trở thành một mảnh ghép còn thiếu trong tất cả các bản thu âm anh chơi Giờ thì khi đã đầy tự tin, Peter hừng hực khí thế quay lại chiếc gara nọ. Ở lần thứ ba này, khi bắt đầu chơi nhạc với các nghệ sĩ khác Peter nghĩ mình có thể “khớp” được vào band rồi. Tuy nhiên, mới chỉ chơi được một lúc thôi, thì các nghệ sĩ khác đã ngừng lại và họ nhìn chằm chằm vào Peter đầy buồn rầu.

Người chơi tenor saxophone lại nói: “Anh biết tất cả mọi thứ, mỗi tội không biết cần “nói” gì trong âm nhạc. Anh và chiếc trumpet của mình tạo nên “cỗ máy” tinh tế, nhưng âm thanh của jazz không thể “máy móc” được. Jazz phải là những gì anh thực sự cảm thấy. Anh cảm thấy gì khi chơi nhạc? Khi có cho mình câu trả lời rồi, hãy quay lại nhé. Chúng tôi vẫn sẽ ở đây.”

Peter lần nữa buồn bã ra về. Ban đầu, anh cảm thấy hết sức bối rối, nhưng cảm xúc đó dần dần chuyển hóa thành sự tức giận. Anh chạy về nhà, nhìn vào tấm biển treo trên cửa đầy giận dữ. “Tôi đang chơi nhạc. Vui lòng không làm phiền.”

Peter chạy thẳng vào phòng, đóng sầm cửa lại, nâng chiếc trumpet lên, và bắt đầu chơi nhạc. Những nốt nhạc đầu tiên chứa đựng sự phẫn nộ, hết sức “gồ ghề” và “xấu xí”. Rồi những nốt nhạc “cau có” đó dần chuyển sang màu sắc “đắc thắng”, và “hạnh phúc” tự lúc nào. Cứ thế tiếp nối là muôn vàn sắc thái khác nhau. Peter đã thốt lên: “Những nốt nhạc này là của tôi” “Chúng thực sự diễn tả hết những gì tôi đang cảm thấy” Và một ngày, khi đã thực sự sẵn sàng rồi, Peter tự tin quay trở lại căn gara kia. Và lần này khi chơi nhạc với các nghệ sĩ jazz còn lại, Peter đã ngay lập tức nhận ra đây là nơi anh thuộc về. Cứ thế, họ chơi nhạc với nhau qua hàng giờ đồng hồ tràn ngập trong sự thỏa mãn đến từ việc tạo ra âm nhạc. Peter lắng nghe giai điệu của nghệ sĩ tenor saxophone, rồi đến alto saxophone. Một thế giới hoàn toàn mới lạ. Và Peter không khỏi trầm trồ: “Ôi, tất cả những gì thứ âm nhạc này chứa đựng là chúng ta! Jazz diễn tả chúng ta!”

Tối muộn hôm đó, Peter Parker về nhà, làm một chiếc biển mới, và treo trên cửa. Nội dung của tấm biển đó là: “Tôi đang chơi nhạc” “Cứ tự nhiên bước vào!”

“Hành trình tiến vào thế giới Jazz” tác phẩm mà các cháu vừa lắng nghe, được sáng tác vào năm ngoái bởi ngài Schuller và ngài Hentoff. Nhưng rất rất lâu trước đó, trước cả khi các cháu chào đời, vào khoảng năm 1926, có một quý ông tên là Aaron Copland đã thử nghiệm nhạc jazz trong không gian phòng hòa nhạc cổ điển, từ đó mà tạo ra vô vàn những kiệt tác xuất sắc. Ngày nay, quý ngài Copland là nhà soạn nhạc hàng đầu Hoa Kì, Ngài được quý mến, ngưỡng mộ, và trân trọng bởi khán giả từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có bao gồm cả các cháu, bởi nếu các cháu nhớ lại, thì ngài Copland đã từng xuất hiện trong chương trình của chúng ta hai lần trước đây. Khi sáng tác bản Concerto cho Piano đậm chất jazz vào năm 1926, ngài mới chỉ 26 tuổi, và là người tiên phong trẻ tuổi cho nền âm nhạc Hoa Kì. Một năm sau đó, khi bản Concerto cho Piano được biểu diễn lần đầu vào năm 1927, ở thị trấn đầy cổ kính – Boston, Massachusetts, với sự chỉ huy tài tình của ngài Koussevitsky, và chàng trai trẻ Copland trên cây đàn piano, người ta không khỏi lấy làm kinh ngạc tột độ. Người Boston đã từng không thể tiếp thu nổi làn sóng “Third Stream”. Ấy vậy mà đến ngày hôm nay, thứ âm nhạc ấy đã trở nên hết sức tự nhiên và là một phần bản dạng của chúng ta.

Giờ phút này, 37 năm sau cột mốc kể trên, chúng ta sắp thưởng thức lại bản Concerto này. Nhưng đừng quên rằng, loại nhạc jazz mà các cháu sắp nghe nay đã ở một thời đại mới. Nhạc jazz của thế kỉ 20, tràn ngập tiết tấu kiểu Charleston như boop-poop-a-doops, cùng tính đa sầu đa cảm rất Gershwin. Và một điều tuyệt vời hơn cả đó là, dù đã rất lâu đời rồi, nhưng tác phẩm này vẫn rất tươi mới, cuốn hút, và giàu năng lượng như lần đầu được thể hiện vào năm 1927. Ngay sau đây, chúng ta sẽ thưởng thức hai chương: một chương chậm đến một chương nhanh được chơi liên tục, không ngắt quãng. Và tôi cũng rất vinh dự và vui mừng giới thiệu nghệ sĩ độc tấu piano hôm nay không ai khác ngoài nghệ sĩ độc tấu của biểu công diễn đầu tiên vào năm 1927.

Nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất, Aaron Copland. Concerto cho Piano và dàn nhạc Bây giờ, để kết thúc chương trình bước vào thế giới nhạc jazz trong khán phòng hòa nhạc cổ điển hôm nay, chúng ta cùng nhau quay về thực tại hôm nay, để khám phá xem những nhà soạn nhạc trẻ đang hướng tới điều gì trong âm nhạc nhé. Như các cháu đã thấy, chúng tôi vừa tái lại tác phẩm ở nhịp 3/5 qua dàn jazz này. Bây giờ chúng tôi sẽ chơi một tác phẩm độc đáo và khác lạ, được sáng tác bởi nhà soạn nhạc trẻ người California, Larry Austin. Ngài Austin cũng kì cựu không kém phần bất kì nhà soạn nhạc nào khác ngoài kia, và là bậc thầy về kĩ thuật của âm nhạc hiện đại. Ở tuổi 33, anh hiện đang là trợ lí giáo sư ở trường đại học California.

Hơn hết, đây không hề là một tác phẩm nửa vời mà là một bản giao hưởng thực thụ. Mặc dù được chơi trong một dàn nhạc jazz, nhưng nó vẫn rất chỉn chu, cùng một cái kết dễ khiến người ta “dựng gáy”, kiểu như một buổi chơi jazz thân mật mà vẫn rất hoành tráng, đến mức các cháu gần như không nhận ra bất kì chất jazz nào trong đó, đặc biệt là ở phần đầu. Thực chất, chất liệu jazz vẫn luôn hiện diện đâu đó thôi. Nhưng nó đã được khéo léo hòa quyện với lối viết giao hưởng một cách nghiêm túc, đến mức gần như không thể phân biệt rõ ràng. Nói một cách khác: ‘Đây chính là “Third Stream” thực thụ.’

Tác phẩm này còn đặc biệt hơn nữa bởi phần ứng tác chứa đựng trong đó. Có tới tận 2 phần trong tác phẩm này khi những nghệ sĩ cổ điển ngừng chơi, để cho dàn nhạc jazz ứng tấu và thể hiện tất cả những cảm xúc của họ ở thời điểm đó. Kì lạ hơn cả thế là một vài thành viên trong dàn nhạc Giao hưởng của chúng ta đôi lúc cũng được mời gọi tham gia ứng tác cùng. Một sự đột phá mới mẻ.

Ngay bây giờ chúng tôi sẽ trình diễn tác phẩm thú vị này. “Các ứng tác cho dàn nhạc và các nghệ sĩ độc tấu jazz,” bởi Larry Austin. Tác phẩm gồm 3 chương: điệu blues nhanh, chậm, rồi đên rất nhanh được trình diễn liên tục và không có violin, như các cháu đang thấy ở đây.

Bản gốc: https://www.leonardbernstein.com/lectures/television-scripts/young-peoples-concerts/jazz-in-the-concert-hall