Tác giả: Johannes Brahms.
Tác phẩm: Sonata cello số 1 giọng Mi thứ, Op. 38
Thời gian sáng tác: Năm 1862-1865.
Độ dài: Khoảng 24 phút.
Đề tặng: Brahms đã tặng tác phẩm cho Josef Gänsbacher (1829-1911), một giảng viên thanh nhạc và là nghệ sĩ cello nghiệp dư.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro non troppo (Mi thứ)
Chương II – Allegretto quasi Menuetto (La thứ – Pha thăng thứ – La thứ)
Chương III – Un poco presto e con sentimento (Mi thứ)

Cuối năm 1862, Brahms ghé thăm Vienna lần đầu tiên. Lúc đó ông nghĩ mình chỉ là một du khách tạm thời, đến Vienna để thu thập thêm kinh nghiệm về vốn sống và văn hoá trước khi trở về quê nhà Hamburg để tiếp nhận cương vị nhạc trưởng tại Hamburg Philharmonic. Tuy nhiên, khi được biết vị trí đó đã được Julius Stockhausen đảm nhiệm, Brahms đã phải thay đổi mục tiêu trong sự nghiệp của mình. Năm 1863, ông trở thành giám đốc dàn hợp xướng Wiener Singakademie. Một trong những người ủng hộ Brahms nhiệt thành nhất là giảng viên thanh nhạc Josef Gänsbacher đồng thời là một nghệ sĩ cello nghiệp dư. Để bày tỏ lòng cảm kích, Brahms đã quyết định dành tặng Gänsbacher bản Sonata cello số 1 của mình.

Đây là bản sonata đầu tiên của Brahms dành cho một nhạc cụ khác và piano, mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy một số phác thảo của những tác phẩm khác thuộc thể loại này đã bị ông loại bỏ trước đó. Brahms đã sáng tác 3 chương của bản sonata này trong năm 1862. Tuy nhiên, ông sau đó đã loại bỏ chương cuối Adagio và mãi đến tận năm 1865, Brahms mới hoàn thành bản sonata cello. Cùng với việc loại bỏ phần Adagio, bản sonata của Brahms có một hình dạng khác thường. Chương I theo hình thức một sonata lớn, tiếp theo là 2 chương nhạc nhỏ hơn ở hình dáng minuet và fugue. Tác phẩm xuất bản lần đầu vào năm 1866 do Fritz Simrock thực hiện sau khi Breitkopf & Härtel đã từ chối. Trên ấn phẩm có ghi Bản sonata dành cho piano và cello. Nghệ sĩ piano Emanuel Ax đã nhận xét về tác phẩm này: “Vị trí của các nhạc cụ trong mối quan hệ với nhau khá mới mẻ và đáng kinh ngạc. Cello thường đảm nhiệm bè trầm của toàn bộ cấu trúc hoà âm trong khi piano thường chơi giọng cao ở cả hai tay. Sự thay đổi của các quãng âm với cello lúc ở trên, lúc ở dưới, lúc lại ở giữa hai tay của piano, tạo ra sự kết hợp mật thiết giữa hai nhạc cụ, để không có cảm giác một nhạc cụ nào quan trọng hơn – giọng chính dịch chuyển liên tục”.

Trong bản Sonata cello số 1 của Brahms này, dấu ấn của Bach là vô cùng rõ ràng. Ngoài ra, đâu đó chúng ta cũng sẽ nhận ra Beethoven, Mozart hay Schubert. Bản sonata này khác biệt với các bản sonata piano trước đó của ông. Nó gần như một “bản sonata lịch sử” với cội nguồn ăn sâu vào âm nhạc của quá khứ – như thể Brahms đang quay lưng lại với tuổi trẻ hoang dại của mình. Đây là điều mà Brahms khẳng định mình là nhà soạn nhạc thính phòng “lãng mạn cổ điển” vĩ đại nhất, một người kế vị xứng đáng cho những người hùng của ông từ các thời kỳ trước đó.

Chương I có độ dài gần bằng cả hai chương còn lại, có hình thức sonata nghiêm ngặt, mở đầu bằng một giai điệu trầm ngâm của cello trên các hợp âm của piano. Nhà âm nhạc học Karl Geiringer nhận xét chương nhạc gợi nhớ tới Contrapunctus III trong tác phẩm Nghệ thuật phức điệu (The art of fugue) của Bach. Mặc dù vậy, ngôn ngữ của bản sonata này vẫn thể hiện được những nét đặc trưng của Brahms. Phần đệm piano dồn dập, đảo phách nhấn mạnh giai điệu mở đầu đầy suy tư của cello, tạo ra một cảm giác kích động nội tâm. Sự căng thẳng này lên đến đỉnh điểm khi đàn cello trình tấu những nốt nhạc ở âm vực cao nhường lại chủ đề cho piano, cuộc tranh luận đầu tiên của một loạt các cuộc tranh cãi nảy lửa giữa piano và cello bắt đầu. Tiếp theo là một cuộc đối thoại hấp dẫn hơn, mở ra chủ đề thứ hai. Điều quan trọng trong cả 2 bản sonata cello của Brahms là lưu ý đến việc cân bằng âm thanh giữa 2 nhạc cụ vì kết cấu bàn phím quá dày đặc sẽ làm mờ đi âm thanh của cello. Brahms đã giải quyết rất tốt vấn đề này. Một cảm xúc tươi sáng hơn được gợi ý trước khi kết thúc phần trình bày, nhưng trong phần phát triển tâm trạng u uất nội tâm của chủ đề mở đầu quay trở lại. Chủ đề thứ hai và chủ đề thứ ba được xử lý trong phần phát triển trước khi tổng hợp đầy đủ các chủ đề trước đó trong phần tái hiện khép lại chương nhạc.

Mặc dù được sáng tác trước khi Brahms chuyển đến Vienna, nhưng âm nhạc của chương II là một sự đặc trưng của thủ đô âm nhạc châu Âu này: đầy tráng lệ nhưng dường như vẫn còn quẩn quanh đâu đó tâm trạng buồn bã của chương I, gợi nhớ về Schubert nhiều hơn là Johann Strauss. Chương nhạc là một mô hình thu nhỏ về lịch sử của điệu nhảy phổ biến của Áo nằm trong hình thức một Minuet điển hình của thời kỳ Mozart. Trong phần trio, trung tâm của chương nhạc, điệu waltz như một lời dành tặng của Brahms cho Vienna, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của ông đối với loại hình âm nhạc này. Ngay sau đó Brahms đã sáng tác một tập 16 điệu waltz dành cho piano 4 tay. Geiringer gọi đã gọi chương nhạc là một điệu waltz buồn. Cello mang đến một giai điệu trữ tình, được nhân đôi lên với phần đệm lung linh ở tay phải của piano: nốt móc kép gợn sóng tạo ra hiệu ứng của một khúc hát ru mà Brahms là người vô địch.

Chương III là một fugue được đưa vào hình thức sonata, một dạng kết hợp chung mà Beethoven thường sử dụng trong những tác phẩm thời kỳ cuối của mình. Chủ đề chính, một dải những nốt chùm ba, được mô phỏng theo Contrapunctus XIII trong Nghệ thuật phức điệu của Bach. Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy ảnh hưởng của chương cuối trong bản Sonata cello số 5 của Beethoven lên chương nhạc này. Tuy nhiên, Brahms đã tạo nên những cảm xúc cực đoan hơn. Tiếp sau sự dữ dội của phần mở đầu, âm nhạc trở nên tĩnh lặng, mang tính đồng quê. Sự lãng mạn trong những điệu nhảy này bị gián đoạn với sự xuất hiện trở lại của phần mở đầu fugue. Sau khi xây dựng đến một cao trào thậm chí còn mãnh liệt hơn trước đó, cơn bão tan biến, người nghe chờ đợi một kết thúc u ám. Nhưng sự xuất hiện bất ngờ của đoạn coda được ghi chú pìu presto đã khiến tác phẩm đi đến một kết thúc không ngừng nghỉ, cello và piano tiếp tục cuộc chiến giành quyền chủ đạo cho đến tận những phút cuối cùng.

Có một giai thoại về tác phẩm này khi Brahms biểu diễn cùng Gänsbacher. Gänsbacher phàn nàn rằng phần piano quá to, đã át hết đi tiếng cello của ông: “Tôi không thể nghe thấy chính mình”. Brahms đã trả lời: “Anh thật là một người may mắn”. Nghệ sĩ cello Robert Hausmann là người có công lớn trong việc phổ biến tác phẩm ở châu Âu. Để cảm ơn ông, Brahms sau này đã dành tặng Hausmann bản Sonata cello số 2. Hausmann cũng là người đầu tiên biểu diễn “Double concerto” của Brahms (cùng với Joseph Joachim).

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
sacms.org
hollywoodbowl.com
calperformances.org